Trang nhất » Hỏi đáp

Hỏi đáp | Gửi câu hỏi tại đây
Tại đây bạn có thể tham khảo các câu trả lời cho những câu hỏi được nhiều người quan tâm nhất.
Lên phía trên
Chất lượng nước ăn uống
Câu hỏi:
Nhà tôi ngay gần xưởng in tôi biết bụi in rất độc đối với sức khoẻ, nhưng làm thế nào để biết không khí gần xưởng in và gia đình tôi có độc hại. Nếu độc thì hướng xử lý và giải quyết thế nào? Thêm nữa, đêm khi mà xưởng in nhiều việc thì còn có cả tiếng ồn. Tôi vẫn dùng cả nước mưa vậy khi nhà quá gần xưởng in như thế này thì tôi có nên dùng nước mưa để ăn uống nữa không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
1. Cách nhận biết không khí gia đình có bị độc hại hay không. Nếu nhiễm độc thì hướng giải quyết như thế nào ?

- Để biết được không khí gần xưởng in có bị độc hại hay không cần có đơn vị đầy đủ năng lực (Trung tâm y tế dự phòng thuộc Sở y tế, Trung tâm quan trắc môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường….) về con người và máy móc để có thể xác định nồng độ bụi in có gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh hay không?

- Nếu gia đình nghi ngờ không khí xung quanh xưởng in ô nhiễm thì có thể kiến nghị các cấp có thẩm quyền như UBND thành phố, Sở tài nguyên và Môi trường kiểm tra xưởng in cung cấp thông tin về môi trường như Kế hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo quan trắc chất lượng môi trường của xưởng in. Căn cứ kết quả kiểm tra, các cơ quan chức năng sẽ xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

2. Thêm nữa đêm khi mà xưởng in nhiều việc thì còn cả tiếng ồn. Tôi vẫn dùng cả nước mưa vậy khi nhà quá gần xưởng in như thế này thì có nên dùng nước mưa để ăn uống nữa không ?

 - Theo Khoản 2 Điều 103 Luật Bảo vệ môi trường 2014 (cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu dân cư gây tiếng ồn, độ dung, ánh sáng bức xạ phải có biện pháp giảm thiểu, không làm ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư)nếu cơ sở không có biện pháp giảm thiểu tiếng ồn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân xung quanh thì đây là hành vi vi phạm pháp luật. Gia đình bạn có thể làm đơn phản ánh sự việc gửi ra UBND phường xã nơi cơ sở  cư trú để có hướng xử lý phù hợp.

- Đối với việc gia đình có nên sử dụng nước mưa hay không ?

 Nước mưa, trong dân gian được nhiều người coi là nước sạch. Một số người dân thích uống nước mưa không đun sôi vì cho rằng nước mưa chứa một số loại muối khoáng hòa tan, chứa ít sắt nên nước mưa không tanh, mát, ngọt hơn nước giếng, nước máy... nên có lợi cho sức khoẻ con người.

Nhưng nước mưa hoàn toàn không sạch như một vài suy nghĩ, nhất là ở thời điểm hiện nay, không khí đang bị ô nhiễm, một số nơi còn bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các hạt mưa trong lúc đang rơi từ trên cao xuống đã rửa sạch một khoảng không khí, nên trong nước mưa có thể sẽ nhiễm một số vi trùng gây bệnh, nhiều chất hoà tan độc hại, ví dụ như a-xit nitơric, a-xit sunfuaric, ô-xít chì... Một vài vùng trên thế giới đã gặp mưa a-xít làm hại cho sức khỏe con người, cây cối…Nên, nước mưa hiện nay không sạch như một số người quan niệm.

Nguồn nước mưa nhà bà sử dụng có thể do nước bốc hơi tạo mây từ nhiều nơi khác đến nên khả năng nước mưa bị ô nhiễm là vẫn có. Khuyến nghị gia đình nên sử dụng nước sinh hoạt từ nhà máy cung cấp nước sạch của Công ty cấp nước Sơn La để đảm bảo vệ sinh, an toàn cho sức khỏe. Nếu không có điều kiện sử dụng nước máy thì cần phải đun sôi trước khi sử dụng.
Lên phía trên
Quy định về lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường
Câu hỏi:
Hiện gia đình tôi đang dự kiến đào hồ chứa nước phục vụ sản xuất và được phòng TNMT huyện hướng dẫn thực hiện các thủ tục về môi trường liên quan đến hồ này. Bộ cho tôi hỏi, do đất đào hồ nước phải chuyển đi đổ nơi khác, vậy gia đình tôi có phải làm lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường để được thẩm định, phê duyệt không? Mong Bộ sớm trả lời để tôi được rõ.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Do nội dung câu hỏi chưa đầy đủ thông tin (không nêu rõ đất đào hồ nước chuyển đổ đi nơi khác để làm gì), nên đề nghị bạn làm việc với cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản ở địa phương để xác định hoạt động hồ chứa nước phục vụ sản xuất, đất đào hồ nước phải chuyển đi đổ nơi khác có phải là đối tượng phải xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản hay không.

Trường hợp gia đình bạn mà phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản thì phải lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Lên phía trên
Ô nhiễm nguồn nước ở Cà Mau
Câu hỏi:
Tôi sống ở khu vực này đã lâu, nhưng hiện nay tôi thấy đoạn sông từ cống Cà Mau dọc lên Cái Nhúc, nhiều rác thải, trôi khắp cả sông, gây ô nhiễm môi trường, nhất là mùi hôi thối rất khó chịu và ô nhiễm nguồn nước (vì quá nhiều rác). Tôi thấy đã qua cũng có vớt rác, nhưng chỉ vớt ở khu vực từ cống Cà Mau đến khu vực chợ phường 7, hiệu quả chưa cao, vì vậy đề nghị cơ quan chức năng sớm chỉ đạo giải quyết tình trạng này, đồng thời có biện pháp xử phạt nghiêm minh việc xả rác bừa bãi nêu trên để sớm giúp dòng sông sạch đẹp cho bà con ở khu vực này sinh sống.
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường Cà Mau trả lời:

Trước tiên, Sở Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận và cảm ơn phản ảnh, đóng góp ý kiến của anh Lê Thành An về tình trạng ô nhiễm môi trường do tồn đọng nhiều rác thải trên sông, nhất là khu vực từ cống Cà Mau đến cầu Cái Nhúc.

Về vấn đề này, Sở Tài nguyên và Môi trường xin có ý kiến như sau: Hiện nay, các tuyến sông trên địa bàn thành phố Cà Mau vẫn còn tình trạng rác thải sinh hoạt trôi nổi trên sông rạch. Nguyên nhân là do việc xả chất thải vào sông rạch tại các khu dân cư ven sông, khu vực chợ cặp ven sông. Thời gian qua, Công ty công trình đô thị đã bố trí tàu vớt rác để thu gom rác thải trên sông rạch nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, đối với tuyến sông từ Cống Cà Mau đến cầu Cái Nhúc, hiện nay tàu vớt rác chưa thu gom rác đến địa điểm này; đồng thời, do hiện nay Cống Cà Mau thường xuyên mở, nên rác thải theo dòng chảy trên sông trôi về hướng cầu Cái Nhúc, dẫn đến tình trạng rác thải tồn đọng nhiều ở khu vực này. Để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường trên sông rạch, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 10/8/2016 về việc tăng cường bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cà Mau; đồng thời, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Cà Mau và thủ trưởng các sở, ngành tỉnh có liên quan đã ký cam kết và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn, đặc biệt là các tuyến sông, kênh, rạch… không để xảy ra tình trạng ứ đọng rác thải, gây ô nhiễm môi trường. UBND tỉnh đã cấp bổ sung kinh phí cho các huyện, thành phố để thực hiện nhiệm vụ về thu gom, xử lý triệt để rác thải trên địa bàn từ nay đến cuối năm 2016. Bên cạnh đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã biên soạn, in ấn và phát hành khoảng 300.000 tờ rơi có nội dung hướng dẫn bảo vệ môi trường và nêu rõ mức xử phạt đối với hành vi vứt, thải rác thải sinh hoạt không đúng quy định. Hiện nay , UBND các huyện, TP. Cà Mau đang triển khai đợt tổng vệ sinh để thu gom rác thải trên các ao hồ, sông, kênh, rạch, khu dân cư và các điểm tồn đọng rác trên địa bàn và hàng tuần đều có báo cáo tiến độ thu gom rác về Sở Tài nguyên và Môi trường để báo cáo UBND tỉnh. Trong thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ đề nghị UBND TP. Cà Mau hợp đồng với Công ty công trình đô thị mở rộng mạng lưới thu gom rác đến khu vực cầu Cái Nhúc để thu gom rác thải tồn đọng. Ngoài ra, Sở Xây dựng đang dự thảo, trình UBND tỉnh ban hành “Quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh Cà Mau” nhằm quản lý chặt chẽ vấn đề môi trường do rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, nghiêm cấm hành vi vứt, đổ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định; phân công trách nhiệm UBND xã, phường kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm quy định về vệ sinh môi trường trên địa bàn quản lý. Nhưng trên hết, Sở Tài nguyên và Môi trường mong muốn từng người dân phải nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân trong công tác bảo vệ môi trường, thay đổi hành vi, thói quen không tốt và kêu gọi mọi ngườii chung tay bảo vệ môi trường sống cho mình, cho cộng đồng và nhân loại trước nguy cơ biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp như hiện nay. Trong thời gian tới, rất mong anh Lê Thành An tiếp tục quan tâm phản ánh kịp thời tình trạng ô nhiễm môi trường với chính quyền cơ sở và Sở Tài nguyên và Môi trường.

Xin trân trọng cảm ơn anh
Lên phía trên
Trách nhiệm thực hiện các nội dung điều tra, đánh giá tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Trách nhiệm các c[ quan liên quan trong thực hiện các nội dung điều tra, đánh giá tài nguyên nước?
Trả lời:
Theo Điều 6, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trách nhiệm thực hiện các nội dung điều tra, đánh giá tài nguyên nước quy định tại Khoản 2 Điều 12 của Luật tài nguyên nước được quy định như sau:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với các nguồn nước liên quốc gia, nguồn nước liên tỉnh; tổng hợp kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên các lưu vực sông liên tỉnh và trên phạm vi cả nước.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với các nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh trên địa bàn; tổng hợp kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên các lưu vực sông nội tỉnh, trên địa bàn và gửi kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.
Lên phía trên
Có bao nhiêu loại giấy phép tài nguyên nước và nội dung thể hiện trên giấy phép?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, giấy phép tài nguyên nước gồm có bao nhiêu loại? Nội dung thể hiện trên giấy phép tài nguyên nước như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 15, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, giấy phép tài nguyên nước bao gồm: Giấy phép thăm dò nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng nước biển; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Giấy phép tài nguyên nước có các nội dung chính sau:

a) Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép;
b) Tên, vị trí công trình thăm dò, khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước;
c) Nguồn nước thăm dò, khai thác, nguồn nước tiếp nhận nước thải;
d) Quy mô, công suất, lưu lượng, thông số chủ yếu của công trình thăm dò, khai thác nước, xả nước thải; mục đích sử dụng đối với giấy phép khai thác, sử dụng nước;
đ) Chế độ, phương thức khai thác, sử dụng nước, xả nước thải;
e) Thời hạn của giấy phép;
g) Các yêu cầu, điều kiện cụ thể đối với từng trường hợp thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước do cơ quan cấp phép quy định nhằm mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác liên quan;
h) Quyền, nghĩa vụ của chủ giấy phép.
Lên phía trên
Ô nhiễm nước do trồng cà phê tại Sơn La
Câu hỏi:
Tôi xin hỏi năm nay việc xử lý ô nhiễm cà phê được tiến hành như thế nào, liệu có gây ảnh hưởng đến nước sinh hoạt của người dân hay không?
Trả lời:
Về vấn đề này, Sở Tài nguyên và Môi trường Sơn La trả lời quý vị như sau:

Tháng 12/2015, đầu năm 2016 Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện thanh tra đối với các cơ sở chế biến cà phê nằm trong lưu vực cấp nước cho thành phố Sơn La  tại các xã Muổi Nọi, Bon Phặng: thuộc địa phận huyện Thuận Châu; các xã Chiềng An, Chiềng Cọ, Chiềng Đen: thuộc địa phận thành phố Sơn La. Qua kết quả kiểm tra đã hướng dẫn người dân thực hiện thực hiện một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình chế biến cà phê.

Trước khi bắt đầu niên vụ 2016 – 2017 diễn ra, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng các sở ban ngành có liên quan đã phối hợp theo dõi chặt chẽ, giám sát các cơ sở trong việc thực hiện kết luận, kết quả thanh tra năm 2015. Đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường đối với 01 cơ sở (cơ sở cà phê Huấn Thủy ngày 4/11/2016). Hiện nay Sở Tài nguyên và Môi trường đang tiếp tục kiểm tra, giám sát các cơ chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh, tập chung vào các cơ sở tại gây ảnh hưởng đến nguồn nước thành phố.

Về khả năng gây ô nhiễm đến nước sinh hoạt cho người dân:

Nước thải sản xuất cà phê xuất phát từ các cơ sở sản xuất nằm trong lưu vực cấp nước cho thành phố Sơn La như đã nêu trên vẫn có thể gây ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân; Lý do:

- Đa số các sở chế biến cà phê đều là tự phát với quy mô, công suất thuộc đối tượng lập Kế hoạch Bảo vệ môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường đơn giản do UBND cấp huyện xác nhận.
- Đa số các cơ sở chế biến cà phê chưa lập Kế hoạch Bảo vệ môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường đơn giản. Một số cơ sở đã lập nhưng chưa thực hiện theo kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đơn giản được phê duyệt.

Trích:  Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường 2014.

“Điều 34.Trách nhiệm của chủ dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi kế hoạch bảo vệ môi trường được xác nhận

1. Tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận.

2. Trường hợp xảy ra sự cố môi trường phải dừng hoạt động, thực hiện biện pháp khắc phục và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan có liên quan.

3. Hợp tác và cung cấp mọi thông tin có liên quan cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường kiểm tra, thanh tra.”

Trích điều 34 Luật Bảo vệ môi trường 2014.

“ Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường

1. Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận.

2. Tiếp nhận và xử lý kiến nghị về bảo vệ môi trường của chủ dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tổ chức, cá nhân liên quan đến dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
3. Phối hợp với chủ đầu tư dự án, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan xử lý sự cố môi trường xảy ra trong quá trình thực hiện dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”

Như vậy UBND các huyện cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm kiểm tra các cơ sở chế biên cà phê trên địa bàn huyện quản lý, phối hợp với các cấp các ngành có liên quan để xử lý triệt để tình trạng gây ô nhiễm môi trường do các cơ sở chế biến cà phê gây ra trên địa bàn tỉnh.
 
Lên phía trên
Xả thải vào tầng chứa nước được hiểu như thế nào?
Câu hỏi:
Xả thải vào tầng chứa nước được hiểu như thế nào? Tầng chứa nước ở đây là gi? Cơ sở tôi đã có hệ thống xử lý và nước thải sau sản xuất và sinh hoạt đều đạt tiêu chuẩn 6772-2000 loại B vậy tôi có được thải thẳng trực tiếp ra sông không?
Trả lời:

1. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Luật Tài nguyên nước: ‘‘Nghiêm cấm các hành thức xả thải vào lòng đất thông qua giếng khoan, giếng đào và các hình thức đưa nước thải vào lòng đất’’. Vì vậy, việc xả nước thải vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái quy định của pháp luật về tài nguyên nước.

2. Câu hỏi của bạn không nêu rõ loại hình cơ sở sản xuất, do vậy không thể biết được nước thải sản xuất của cơ sở sau hệ hệ thống xử lý là gì nên Sở TN&MT không thể xác định quy chuẩn áp dụng đối với chất lượng nước thải sản xuất của cơ sở khi thải ra môi trường.

Riêng đối với nước thải sinh hoạt thải ra môi trường phải đạt QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt, do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành tại Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2009.

QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt thay thế cho TCVN 6772:2000 – Chất lượng nước  - Tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt ban hành kèm theo Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

- Theo quy định tại Khoản 3, Điều 37 Luật Tài nguyên nước thì cơ sở xả nước thải vào nguồn nước phải được cơ quan có thẩm quyền quy định tại điều 73 của Luật Tài nguyên nước cấp giấy phép, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 5, Điều 37 Luật Tài nguyên nước; các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước được quy định tại Khoản 3, Điều 16, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ.
Lên phía trên
Về việc các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ xả nước thải gây ô nhiễm
Câu hỏi:
Tôi đang ở Biên Hòa, Đồng Nai. Khu vực gia đình tôi sinh sống có một hộ dân chăn nuôi gà, vịt, heo nhỏ lẻ, xả nước thải gây ô nhiễm môi trường. Cơ quan cho tôi hỏi việc chăn nuôi của hộ dân đó có được phép không? tôi muốn phản ánh thì phản ánh tới cơ quan nào. Xin cảm ơn.
Trả lời:

Về vấn đề này, Sở TNMT tỉnh Đồng Nai trả lời như sau:

Theo Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 14/6/2013 của UBND tỉnh về ban hành quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, UBND cấp huyện thực hiện giải quyết đơn phản ánh về môi trường thuộc thẩm quyền và phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường trong trường hợp vượt quá thẩm quyền.

Ngoài ra, theo Quyết định số 891/QĐ-UBND ngày 28/3/2012 của UBND tỉnh về phê duyệt danh sách di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường và các cơ sở phải di dời theo quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đợt 1, UBND thành phố Biên Hòa chủ trì, phối hợp các sở, ngành hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc di dời các cơ sở có quy mô bản cam kết bảo vệ môi trường. UBND thành phố Biên Hòa đã có Quyết định số 220/QĐ-UBND ngày 12/02/2007 và Quyết định số 3793/QĐ-UNND ngày 16/7/2012 quy định lộ trình chấm dứt các hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Biên Hòa.

Do đó, trường hợp khu vực gia đình nhà ông/bà sinh sống có hộ dân chăn nuôi gà, vịt, heo nhỏ lẻ, xả nước thải gây ô nhiễm môi trường, đề nghị Ông/Bà  liên hệ với UBND thành phố Biên Hòa trong trường hợp muốn phản ánh về tình hình chăn nuôi của hộ chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường nêu trên để được xử lý theo đúng quy định.

Trân trọng!
Lên phía trên
Giải pháp quản lý và xử lý nước thải tại các khu vực chưa có hệ thống thu gom tập trung?
Câu hỏi:
Theo quy định việc để nước thải sau xử lý được cho tự thấm là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định Luật Tài nguyên nước năm 2012. Vậy xin Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết hiện nay giải pháp quản lý và triển khai thực hiện quy định nêu trên như thế nào đối với người dân (hộ gia đình cá nhân), trường học, khu vui chơi giải trí, công cộng, cơ quan hành chính hay các khu vực chưa có hệ thống thu gom tập trung và đặt biệt là các vùng dân tộc thiểu số miền núi. Theo được biết thì các đối tượng nêu trên xả nước thải thông qua bể tự hoại 3 ngăn và ngăn cuối cùng là tự thấm hay xả nước thải sinh hoạt trực tiếp ra môi trường.
Kính thư!
Trả lời:
Trả lời:

Việc đưa nước thải, kể cả nước thải đã qua xử lý là nguy cơ lớn gây ô nhiễm các nguồn nước. Chính vì vây, đây là một trong những hành vi mà Luật TNN nghiêm cấm.

Việc xử lý nước thải sinh hoạt thuộc trách nhiệm chung của nhà nước. Để triển khai thực hiên các quy định này của Luật, các địa phương cần có kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý, tiêu dẫn nước thải sinh hoạt cho cả khu vực đô thị, nông thôn.
Lên phía trên
Tình hình lượng nước tại đồng bằng sông Cửu Long mùa khô năm 2016 - 2017
Câu hỏi:
Tình hình nước tại đồng bằng sông Cửu Long năm nay rất thất thường, xin cho biết năm sau sẽ như thế nào?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Tổng lượng nước sông Mê Kông về đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô năm 2016-2017 có khả năng thiếu hụt từ 15-35%. Do đó, tình trạng khô hạn, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô năm 2016-2017 sẽ có khả năng xảy ra tuy nhiên không gay gắt như mùa khô năm 2015-2016.
Lên phía trên
Phí thẩm định Đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Cho tôi hỏi về quy định về mức thu lệ phí thẩm định Đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào? Xin chân thành cảm ơn.
Trả lời:

Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 94/2016/TT-BTC, ngày 27/6/2016 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 59/2006/QĐ-BTC ngày 25/10/2006 về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất; Thông tư 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 Hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Điểm 5, mục I 
Biểu mức thu ban hành kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được sửa đi, bổ sung như sau:


5

Phí thm định đề án, báo cáo xả nưc thải vào nguồn nước

Mức thu 
(đồng/hồ sơ)

a)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước xả từ 3.000 đến dưới 10.000 m3/ngày đêm

8.500.000

b)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước xả từ 10.000 đến dưới 20.000 m3/ngày đêm

11.600.000

c)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước xả từ 20.000 đến 30.000m3/ngày đêm

14.600.000

d)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước trên 30.000m3/ngày đêm

17.700.000

đ)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước từ 30.000 đến dưới 50.000 m3/ngày đvới hoạt động nuôi trồng thủy sản

8.400.000

e)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước từ 50.000 đến dưới 70.000 m3/ngày đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

9.400.000

g)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nưc từ 70.000 đến dưới 100.000 m3/ngày đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

11.000.000

h)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước từ 100.000 đến dưới 200.000 m3/ngày đối vi hoạt đng nuôi trồng thy sản

12.600.000

i)

Đề án, báo cáo có lưu lượng nước từ 200.000 đến 300.000 m3/ngàyđối với hoạt động, nuôi trồng thy sản

14.000.000

k)

Đề án, báo cáo có lưu lưng nước trên 300.000 m3/ngày đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

16.000.000

 

Lên phía trên
Quy định về quan trắc tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Việc quan trắc tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 8, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc quan trắc tài nguyên nước được quy định như sau:

1. Mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước bao gồm:

a) Mạng lưới trạm quan trắc của Trung ương bao gồm các trạm quan trắc lượng mưa; các trạm quan trắc lưu lượng, mực nước, chất lượng nước của các nguồn nước mặt liên quốc gia, liên tỉnh và của các nguồn nước nội tỉnh quan trọng, nước biển ven bờ; các trạm quan trắc mực nước, chất lượng nước của các tầng chứa nước liên tỉnh hoặc có tiềm năng lớn;
b) Mạng lưới trạm quan trắc của địa phương bao gồm các trạm quan trắc lượng mưa; các trạm quan trắc lưu lượng, mực nước, chất lượng nước của các nguồn nước mặt, nước dưới đất trên địa bàn và phải được kết nối với mạng lưới trạm quan trắc của Trung ương.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước trên phạm vi cả nước, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

3. Căn cứ quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức xây dựng, quản lý và thực hiện việc quan trắc tài nguyên nước đối với mạng lưới trạm quan trắc của Trung ương; Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức xây dựng, quản lý và thực hiện việc quan trắc tài nguyên nước đối với mạng quan trắc tài nguyên nước của địa phương.

4. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định nội dung, chế độ quan trắc tài nguyên nước quy định tại Điều này.
Lên phía trên
QCVN và TCVN về tài nguyên nước
Câu hỏi:
Cho em hỏi về các quy chuẩn và tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến tài nguyên nguyên nước.
Em được biết có QCVN 08, 09, 10/2015-BTNMT. Vậy còn những QCVN hay TCVN nào không.
Cảm ơn.
Trả lời:
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, quy chuẩn này quy định giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm tương ứng từng lĩnh vực cụ thể như sau:

- Quy chuẩn QCVN 60-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sản xuất cồn nhiên liệu (theo Thông tư số 76/2015/TT-BTNMT ngày 21/12/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016). Đây là quy chuẩn được ban hành mới, đưa ra giá trị làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép của 06 thông số ô nhiễm (pH, BOD5, ở 200C, COD, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Tổng nitơ (tính theo N), Tổng phốt pho (tính theo P)).

- Quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT -  Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, thay thế Quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (theo Thông tư số 65/2015/TT-BTNMT ngày 21/12/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh như sau: Đối với giá trị giới hạn được điều chỉnh tăng thêm 02 thông số Mangan (Mn) và Tổng Cacbon hữu cơ (TOC), bỏ 02 nhóm thông số là hóa chất bảo vệ thực vật Phospho hữu cơ và Hóa chất trừ cỏ, đổi thông số Crom (III) thành thông số tổng Crom. Giới hạn của thông số Cyanua (CN-) và nhóm hóa chất bảo vệ thực vật Clo hữu cơ được điều chỉnh tăng.

- Quy chuẩn QCVN 09-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất, thay thế Quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT (theo  Thông tư số 66/2015/TT-BTNMT ngày 21/12/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh tên gọi từ chất lượng nước ngầm thành chất lượng nước dưới đất. Tên gọi của một số thông số được điều chỉnh (thông số COD điều chỉnh thành chỉ số Pecmanganat, Chất rắn tổng số được điều chỉnh thành Tổng chất rắn hòa tan (TDS), Phenol thành Tổng Phenol). Thêm thông số niken (Ni), Aldrin, Benzene hexachloride (BHC), Dieldrin, Tổng Dichloro diphenyl trichloroethane (DDTs), Heptachlor & Heptachlorepoxide. Giới hạn của thông số amoni được điều chỉnh tăng 10 lần từ 0,1mg/l thành 1mg/l.

- Quy chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển, thay thế Quy chuẩn QCVN 10:2008/BTNMT (theo Thông tư số 67/2015/TT-BTNMT ngày 21/12/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016). Quy chuẩn này được bổ sung thêm thành phần nước biển gần bờ với 16 thông số (pH, As, Cd, Pb, Cr, Cu, Zn, Jg, CN-, HCBVTV nhóm Clo hữu cơ, Phenol và Tổng dầu mỡ khoáng).

- Quy chuẩn QCVN 11-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản, thay thế Quy chuẩn QCVN 11:2008/BTNMT (theo Thông tư số 77/2015/TT-BTNMT ngày 31/12/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh như sau: Đối với giá trị C bổ sung mới quy định về thông số Tổng Photpho, điều chỉnh về giới hạn thông số COD cột A từ 50 lên 75 mg/l, cột B từ 80mg/l lên 150mg/l, các thông số khác hầu như không có sự thay đổi.

- Quy chuẩn QCVN 01-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sơ chế cao su thiên nhiên, thay thế Quy chuẩn QCVN 01:2008/BTNMT (theo Thông tư số 11/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/6/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh như sau: Đối với giá trị C của thông số COD, Tổng nitơ (Tổng N), Amoni (NH4+ tính theo N) được chia thành 02 mức áp dụng: cơ sở mới; cơ sở đang hoạt động tương ứng với những mức thay đổi về giá trị cột A, cột B.

- Quy chuẩn QCVN 12-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy, thay thế Quy chuẩn QCVN 12:2008/BTNMT (theo Thông tư số 12/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/6/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh như sau: Đối với giá trị C được bổ sung cột B3 cơ sở liên hợp sản xuất giấy và bột giấy; Bổ sung mới thông số nhiệt độ, Dioxin (áp dụng từ 01/01/2018); Thay đổi giá trị cột A, B1, B2 đối với thông số COD, độ màu (pH=7).

- Quy chuẩn QCVN 13-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm, thay thế Quy chuẩn QCVN 13:2008/BTNMT (theo Thông tư số 13/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/6/2016). Quy chuẩn này điều chỉnh như sau: Đối với giá trị C bãi bỏ thông số mùi, dầu mỡ khoáng, Crôm (Cr3+), Sắt (Fe), Đồng (Cu), đồng thời bổ sung mới thông số Xyanua, Tổng các chất hoạt động bề mặt; Đối với thông số độ màu (pH =7), COD bổ sung mức quy định áp dụng cơ sở mới, cơ sở đang hoạt động cho giá trị tương ứng cột A, cột B.

- Quy chuẩn  QCVN 52-2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất thép.

- Quy chuẩn QCVN 40 - 2011/BTNMT - Quy chuẩn quốc gia về nước thải công nghiệp.
....
Lên phía trên
Quy định định kỳ báo cáo hoạt động khai thác nước
Câu hỏi:
Theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT quy định giấy phép khai thác nước dưới đất và Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT quy định bảo vệ tài nguyên nước dưới đất: ngày 15/12 hàng năm các doanh nghiệp có giấy phép khai thác nước dưới đất phải lập báo cáo tình hình khai thác nước dưới đất và có quy định rõ ràng về các mục phải báo cáo. Vậy xin cho hỏi còn đối với doanh nghiệp có giấy phép khai thác nước mặt thì căn cứ vào đâu để lập báo cáo tình hình khai thác nước mặt , văn bản nào quy định nội dung cần có trong báo cáo.
Trả lời:
Trả lời: 
Theo quy định tại khoản 2, điều 32, Nghị định số 201/2013/ND-CP quy định chi tiết thi hành 1 số điều Luật Tài nguyên nước, việc lập báo cáo hiện trạng KTSD nước mặt dành cho trường hợp đã có công trình khai thác.
Mẫu báo cáo và nội dung báo cáo được quy định tại mẫu 30 của thông tư số 27/2014/TT-BTNMT  Quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước.
Về quy định thời gian nộp báo cáo, tại điều 44, Luật tài nguyên nước đã quy định về việc đăng ký, cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và Điều 16 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP đã quy định các trường hợp khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải đăng ký, không phải xin phép. Như vậy, các tổ chức, cá nhân không thuộc trường hợp không phải đăng ký, không phải xin phép thì đều phải có nghĩa vụ xin cấp phép. Và việc xin cấp phép này phải thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư  đối với công trình chưa khai thác và đối với các công trình đã có công trình khai thác, việc xin cấp phép phải thực hiện ngay khi các quy định về cấp phép tài nguyên nước có hiệu lực.
Lên phía trên
Các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải đăng ký, không phải xin phép
Câu hỏi:
Em chào anh chị,
Anh chị cho em hỏi: Các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải đăng ký, không phải xin phép?
Em cảm ơn anh chị!
Trân trọng,
Trả lời:
Trả lời:
Theo Điều 16, Nghị định 201/NĐ-CP quy định về các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải đăng ký, không phải xin phép như sau:
1. Các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước quy định tại các Điểm a, c, d và Điểm đ Khoản 1 Điều 44 của Luật tài nguyên nước mà không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 44 của Luật tài nguyên nước.
2. Các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước với quy mô nhỏ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 44 của Luật tài nguyên nước bao gồm:
a) Khai thác nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 44 của Luật tài nguyên nước;
b) Khai thác nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 0,1 m3/giây;
c) Khai thác nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp không vượt quá 100 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy không vượt quá 50 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm; khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động trên biển, đảo.
3. Các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước quy định tại Khoản 5 Điều 37 của Luật tài nguyên nước bao gồm:
a) Xả nước thải sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình;
b) Xả nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 5 m3/ngày đêm và không chứa hóa chất độc hại, chất phóng xạ;
c) Xả nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung mà hệ thống đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và có thỏa thuận hoặc hợp đồng xử lý, tiêu thoát nước thải với tổ chức, cá nhân quản lý vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đó;
d) Xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa.
Lên phía trên
Quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, trách nhiệm quan trắc, giám sát tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:

Trả lời:
Theo Điều 28, Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, 

1. Trách nhiệm quan trắc, giám sát tài nguyên nước được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước nội tỉnh;
c) Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có trách nhiệm quan trắc, giám sát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải của mình theo quy định.
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể việc quan trắc, giám sát tài nguyên nước.
Lên phía trên
Với mức xả thải khoảng 300m3/ngày đêm, có cần phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước không?
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi chuyên sản xuất tôm giống (tôm chân trắng, tôm sú,) cung cấp cho người dân trong khu vực, với mức xả thải khoảng 300m3/ngày đêm (thay nước trong quá trình chăm sóc), và đã có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn xả thải (QCVN 40:2011/BTNMT) trước khi thải ra môi trường tiếp nhận (Kết quả báo cáo giám sát môi trường định kỳ)
Theo điểm d, khoản 3, điều 16 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP về quy định thi hành chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước, Quy định Xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa
Như vậy, trong trường hợp này, công ty chúng tôi có cần phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước không?
Rất mong Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ TNMT giải đáp để chúng tôi có cơ sở báo cáo với các đơn vị quản lý trên địa bàn Tỉnh
Chân thành cám ơn.
Số điện thoại: 0914.028.069
Trả lời:
Theo khoản d, điểm 3, điều 16 Nghị định 201/2013/ND-CP đã nêu rõ: các trường hợp không phải xin cấp phép bao gồm có xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông suối, hồ chứa. 
Như vậy, theo quy định thì Công ty không cần phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước. Tuy nhiên, quý công ty cần tìm hiểu thêm các quy định về cấp phép hoạt động tài nguyên nước trên địa tỉnh để phù hợp với các quy định cụ thể của từng địa phương.


Lên phía trên
Tính thuế tài nguyên đối với cơ sở sản xuất thuỷ điện
Câu hỏi:
Theo ước tính, khoảng 1,2% sản lượng điện do Nhà máy của Công ty tôi sản xuất được sử dụng để vận hành các tổ máy phục vụ việc phát điện của Nhà máy. Vậy, sản lượng điện tiêu dùng nội bộ này có phải kê khai để nộp thuế tài nguyên không?
Trả lời:
Về vấn đề bà Yến hỏi, Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
 

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Luật Thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12, đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận.

Căn cứ quy định trên thì sản lượng điện làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với cơ sở sản xuất thuỷ điện là sản lượng điện do cơ sở thuỷ điện bán cho bên mua theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Luật Thuế Tài nguyên.

Về sản lượng tính thuế tài nguyên nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện đã được quy định cụ thể tại Luật thuế Tài nguyên nên không có căn cứ tính thuế tài nguyên đối với sản lượng điện tiêu dùng nội bộ.

Lên phía trên
định nghĩa về tài nguyên nước
Câu hỏi:
Định nghĩa về Tài nguyên nước. Định nghĩa về nước mặt, nước ngầm, nước dưới đất.
Trả lời:
Theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 các khái niệm trên được hiểu như sau:
1. Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
3. Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất.
Lên phía trên
Các nghành nghề ưu tiên được cấp phép khai thác nước dưới đất để phục vụ sản xuất thuộc khu vực tỉnh Thanh Hóa?
Câu hỏi:
Hiện tôi đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác nước dưới đất tại Hà Nội. Xin quí Sở cho tôi biết các nghành nghề ưu tiên được cấp phép khai thác nước dưới đất để phục vụ sản xuất thuộc khu vực tỉnh Thanh Hóa? (Lê Tây Tiến, 38 tuổi, Hà Nội).
Trả lời:
Sở TNMT Thanh Hoá trả lời:
 
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước: Ưu tiên cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước để cung cấp nước cho sinh hoạt; không quy định các ngành nghề ưu tiên cấp phép khai thác nước dưới đất để phục vụ sản xuất.
 
Lên phía trên
Thủ tục báo cáo về chứng nhận cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm môi trường triệt để?
Câu hỏi:
Công ty TNHH cao su Mardec, Bình Dương có hệ thống XLNT nhưng không đạt chuẩn môi trường A, vì thế chúng tôi có xây dựng mới hệ thống cải tạo, không biết khi hệ thống xây dựng xong ngoài báo cáo về chứng nhận khỏi danh sách môi trường, tôi còn phải làm những thủ tục pháp lí nào nũa không , xin quý Sở hướng dẫn?
(Trừ Văn Thố, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương)
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương trả lời:

Công ty TNHH cao su Mardec nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng năm 2013 theo Quyết định số 966/QĐ-UBND ngày 16 tháng 04 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo quyết định trên, Công ty TNHH cao su Mardec phải cải tại lại công trình xử lý nước thải, đảm bảo nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường môi trường. Sau khi hoàn thành xong việc cải tạo công trình xử lý nước thải đạt quy chuẩn môi trường cho phép thì Công ty phải lập hồ sơ xin chứng nhận cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm môi trường triệt để. Hồ sơ xin chứng nhận cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm triệt để theo quy định tại Quyết định số: 10/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 08 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm có:
 
- Đơn đề nghị chứng nhận cơ sở đã hoàn thành cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm môi trường triệt để theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 của quyết định;
 
- Báo cáo kết quả xử lý ô nhiễm môi trường triệt để của cơ sở theo mẫu quy định tại Phụ lục 2 của quyết định;
 
- Bảng kết quả phân tích các thông số môi trường được thực hiện bởi đơn vị chuyên môn có chức năng hoạt động trong lĩnh vực phân tích chất lượng môi trường;
 
- Bản sao Phiếu xác nhận Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc Báo cáo đánh giá tác động môi trường.
 
Đồng thời, Theo quy định tại Khoản 3, Điều 37, Luật tài nguyên nước và điểm b, Khoản 3, Điều 16, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ thì lưu lượng nước thải của Công ty lớn hơn 5 m3/ngày nên Công ty phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Thành phần hồ sơ cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được quy định tại Khoản 1, Điều 33, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ và biểu mẫu thực hiện theo theo Mẫu số 01/XNT; 03/XNT được quy định tại Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Công ty có thể truy cập thủ tục hành chính trên theo trang Web của Sở Tài nguyên và Môi trường với đường dẫn: WWW.stnmt.binhduong.gov.vn/thủ tục hành chính/lĩnh vực tài nguyên nước/Cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
 
Hồ sơ xin chứng nhận cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm triệt để và hồ sơ đề nghị cấp phép xả nước thải vào nguồn nước nộp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - Sở Tài nguyên và Môi trường. Địa chỉ: tầng 1, tháp A, Tòa nhà Trung tâm chính trị hành chính tập trung tỉnh Bình Dương- Phường Hòa Phú, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương.
 
Lên phía trên
Gia hạn giấy phép khai thác nước ngầm
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi được Bộ tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác nước dưới đất với lưu lượng tối đa 1.500m3/ngày từ năm 2004. Đến nay giấy phép đã sắp hết hạn. Chúng tôi đang chuẩn bị làm hồ hơ xin gia hạn giấy phép. Theo Thông tư số 2 năm 2005 của BTNMT thì từ năm 2005 sẽ chuyển về Sở tài nguyên môi trường cấp tỉnh thực hiện việc cấp và gia hạn giấy phép. Chúng tôi có tham khảo ý kiến của Sở TNMT tỉnh thì được trả lời rằng do giấy phép của công ty là do BTNMT cấp nên họ không tiến hành gia hạn. Vậy trong trường hợp này, chúng tôi cần làm những gì và xin gia hạn tại cơ quan nào? Tôi xin cảm ơn và mong sớm nhận được hồi âm của cơ quan!
Trả lời:
Với lưu lượng khai thác là 1.500 m3/ngày được BTNMT cấp phép năm 2004 đến nay giấy phép đã hết hạn cho nên Sở TNMT không gia hạn cho công trình là đúng, và theo quy định của Luật tài nguyên nước năm 2012 và Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 thì công trình khai thác nước này thuộc thẩm quyền UBND tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác nước. Vì vậy, Công ty phải làm thủ tục xin cấp giấy phép khai thác nước dưới đất mới đối với trường hợp công trình giếng khoan này đã có đang hoạt động khai thác.
Lên phía trên
Quy định pháp luật về xả nước thải sinh hoạt ra biển
Câu hỏi:
Tôi được biết là đã có quy định về thải nước thải sinh hoạt ra biển. Vậy cho tôi hỏi là thải thế nào, làm thêm đường ống ra sát mép khu đất với bờ biển hay là đặt ra xa sát ngoài biển luôn. Nếu vậy phải đào sâu xuống phải không? để thải ra biển. Tôi thấy nếu đặt gần bờ thì người ta thấy nước chảy ra dơ. Cảm ơn
Trả lời:

Sở TNMT Bình Thuận trả lời:
 
Ngày 29/5/2014 Cục Quản lý Tài nguyên nước có Công văn số 782/TNN-BVTNN về việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước. Theo đó, chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường : “… Rà soát và yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chấm dứt hoạt động xả nước thải vào các tầng chứa nước dưới mọi hình thức. Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các vùng đất cát, cồn cát ven biển có biện pháp chuyển nước thải đã xử lý vào nguồn nước mặt hoặc nước biển, không để xảy ra tình trạng để nước thải thấm vào các tầng chứa nước dưới đất.….”.
 
Chấp hành ý kiến chỉ đạo Cục Quản lý Tài nguyên nước; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức hướng dẫn việc thực hiện nội dung nêu trên. Theo đó, nước thải đã xử lý đạt tiêu chuẩn phải được chuyển vào nguồn nước mặt hoặc nước biển; không để xảy ra tình trạng để nước thải thấm vào các tầng chứa nước dưới đất; hệ thống chuyển nước thải ra nguồn nước biển, nước mặt phải đảm bảo đạt các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, tính thẩm mỹ và các quy định khác của pháp luật.
Lên phía trên
Vấn nạn lục bình trên sông Vàm Cỏ Đông
Câu hỏi:
Tôi đã sống ở gần Sông Vàm Cỏ mấy chục năm nay. Mấy năm gần đây người dân khu vực này phải gánh chịu là "Vấn nạn Lục bình" trên sông. Quý Sở cho biết khi nào mới giải quyết vấn nạn này để người dân được nhờ?
Trả lời:

Sở TNMT Tây Ninh trả lời:
 
Trong mấy năm gần đây, vào mùa khô, tình trạng lục bình phát sinh nhiều trên sông Vàm Cỏ Đông gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Nguyên nhân của tình trạng lục bình phát sinh nhiều là do sông Vàm Cỏ Đông tiếp nhận nhiều nguồn nước thải, trong đó có nước thải của một số nhà máy, cơ sở sản xuất công nghiệp chưa được xử lý đạt quy chuẩn môi trường quy định nên chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông còn bị ô nhiễm chất hữu cơ là nguồn dinh dưỡng cho cây lục bình phát triển.
 
Để khắc phục tình trạng này, UBND tỉnh đã tích cực chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải chủ trì và phối hợp với các Sở, ngành, UBND các huyện, thành phố thực hiện nhiều biện pháp để giải quyết tình trạng lục bình phát sinh như: Phối hợp với các Viện nghiên cứu, Trường Đại học để tìm giải pháp xử lý lục bình, hơp đồng với đơn vị có điều kiện, năng lực để vớt lục bình, phát động người dân tham gia giải tỏa lục bình . . . và chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra các nguồn nước thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất xả vào sông Vàm Cỏ Đông phải đạt loại A, quy chuẩn môi trường Việt Nam quy định, chậm nhất đến tháng 6/2014. Quá thời hạn này nếu cơ sở không thực hiện sẽ đình chỉ hoạt động. Sở Tài nguyên và Môi trường đã tích cực kiểm tra các nguồn nước thải, xử lý nghiêm các vi phạm về xả nước thải của các cơ sở. Đến nay, Sở đã cơ bản kiểm soát được các nguồn nước thải vào sông Vàm Cỏ Đông, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước sông đã được cải thiện tốt hơn so với các năm trước. Như vậy, với sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các Sở ngành, chính quyền địa phương có liên quan để vừa tiếp tục thực hiện việc xử lý lục bình, vừa khắc phục ô nhiễm nguồn nước thì tình trạng lục bình phát triển trên sông Vàm Cỏ Đông sẽ sớm được khắc phục.
 
Lên phía trên
QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt
Câu hỏi:
Quy chuẩn VN QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt; đối tượng áp dụng là: dùng cho mục đích sinh hoạt thông thường, không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm, có công suất dưới 1.000 m3/ngày đêm,.
QCVN 01:2009/BYT về chất lượng nước ăn uống; đối tượng áp dụng là: dùng cho mục đích sinh hoạt có công suất từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên.
Như vậy, trường hợp cơ sở du lịch của chúng tôi khai thác nước ngầm (công suất 20m3/ngày đêm) phục vụ cho hoạt động sinh hoạt (phục vụ cho nhà hàng) thì áp dụng Quy chuẩn nào là phù hợp?
Trả lời:

Trả lời:

Việc đánh giá chất lượng nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác nước ngầm thì chất lượng nước đánh giá theo QCVN 09:2008/BTNMT. 
Chất lượng nước để sử dụng cho mục đích sinh hoạt thì áp dụng theo quy định của Bộ Y tế, nghĩa là nước sau xử lý phải dạt Quy chuẩn kỹ thuật của Bộ Y tế.
 
Lên phía trên
Quy định về khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất
Câu hỏi:
Tôi ở Hàm Tiến - Bình Thuận, khu vực này giờ cấm dùng nước dưới đất. Chỉ dùng nước máy để sinh hoạt và tưới cây. Điều này thì tốn kém rất nhiều, không thể tưới cây dùng nước máy. Vậy cho tôi hỏi khi nào cho dùng nước dưới đất lại?
Trả lời:

Sở TNMT Bình Thuận trả lời:

Sau khi nhận phản ánh của một số các khu du lịch; Sở Tài nguyên Môi trường Bình Thuận đang khảo sát đánh giá lại khả năng nguồn nước và tình hình khai thác sử dụng nước dưới đất khu vực có đường ống cấp nước sạch đi qua (Từ Lầu Ông Hoàng đến ngã ba Chợ Rạng ). Trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá; đối chiếu với các quy định pháp luật, Sở sẽ có báo cáo và đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét, quyết định việc cấm, cho phép hay hạn chế việc khai thác, sử dụng nước dưới đất khu vực này phù hợp với quyền lợi của các tổ chức, cá nhân và pháp luật về Tài nguyên nước.
Lên phía trên
Việc khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp có phải xin cấp phép hay không? nộp hồ sơ tại đâu? thủ tục như thế nào?
Câu hỏi:
Việc khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp có phải xin cấp phép hay không? nộp hồ sơ tại đâu? thủ tục như thế nào? (Lò Thị Hưn, 47 tuổi,Thành phố Lai Châu)
Trả lời:
Sở TNMT Lai Châu trả lời:
a- Xin cấp phép khai thác nước
Việc khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp có phải xin cấp phép hay không, phụ thuộc vào quy mô, nguồn nước (mặt, nước ngầm) khai thác. Câu hỏi của Bà chưa rõ quy mô và nguồn nước khai thác nên Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 44 của Luật Tài nguyên nước; điểm a, b, khoản 2, Điều 16, Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, quy định:
+ Trường hợp phải xin cấp phép: Khai thác nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với quy mô từ 0,1 m3/giây trở lên; Khai thác nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô từ 10 m3/ngày đêm trở lên; 
+ Trường hợp khai thác nước không phải xin phép, không phải đăng ký: Khai thác nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 0,1 m3/giây; Khai thác nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm (với điều kiện ở các vùng mà mực nước không bị suy giảm).
b. Nơi tiếp nhận hồ sơ ? 
Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thẩm định hồ sơ được quy được quy định tại Điều 28 và Điều 29, Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước như sau:
+ Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép khai thác sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 2m3 /giây trở lên; thăm dò, khai thác nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên;.
+ Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh. UBND tỉnh cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng không vượt quá 2m3 /giây; thăm dò, khai thác nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng không vượt quá 3.000 m3/ngày đêm; 
c. Thủ tục như thế nào?
Trình tự, thủ tục cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định tại Điều 35, Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ, cụ thể như sau:
- Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
+ Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nộp hai (02) bộ hồ sơ và nộp phí thẩm định hồ sơ theo quy định của pháp luật cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép còn phải nộp thêm một (01) bộ hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường của địa phương dự định đặt công trình;
+ Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ sau khi đã bổ sung mà vẫn không đáp ứng yêu cầu theo quy định thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép.
- Thẩm định đề án, báo cáo thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép (sau đây gọi chung là đề án, báo cáo):
+ Trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định đề án, báo cáo; nếu cần thiết thì kiểm tra thực tế hiện trường, lập hội đồng thẩm định đề án, báo cáo. Trường hợp đủ điều kiện cấp phép, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép; trường hợp không đủ điều kiện để cấp phép thì trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép và thông báo lý do không cấp phép;
+ Trường hợp phải bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện đề án, báo cáo thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung cần bổ sung, hoàn thiện đề án, báo cáo. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hoặc lập lại đề án, báo cáo không tính vào thời gian thẩm định đề án, báo cáo. Thời gian thẩm định sau khi đề án, báo cáo được bổ sung hoàn chỉnh là hai mươi (20) ngày làm việc;
+ Trường hợp phải lập lại đề án, báo cáo, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung đề án, báo cáo chưa đạt yêu cầu, phải làm lại và trả lại hồ sơ đề nghị cấp phép.
- Trả kết quả giải quyết hồ sơ cấp phép: Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận giấy phép.
Trên đây là trả lời của Sở Tài nguyên và Môi trường đối với câu hỏi “việc khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp có phải xin cấp phép hay không? Nộp hồ sơ tại đâu? Thủ tục như thế nào?” của bà Lò Thị Hưn.
 
Lên phía trên
Giải quyết ô nhiễm nước trên sông Cầu
Câu hỏi:
Nhà máy tinh bột sắn nằm bên con sông nhánh của sông Cầu (Tỉnh Thái Nguyên)hoạt động đã nhiều năm nay. Nước thải của nhà máy đã làm ô nhiễm dòng sông, nước dòng sông chuyển sang màu đen , bốc mùi hôi thối làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân ba xóm Hùng Vương, Mỏ Đá, Núi Hột thuộc xã Linh Sơn Huyện Đồng Hỷ , tỉnh thái nguyên. Đặc biệt dòng nước của con sông này lại đổ ra dòng sông cầu làm ô nhiễm Nguồn nước sinh hoạt của nhiều hộ dân.
Hỏi: tại sao một nhà máy làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm dòng sông như thế tại sao lại vẫn tồn tại trong nhiều năm mà vẫn hoạt động không có cơ quan chức năng nào đứng ra giải quyết vấn đề ô nhiễm và tìm lại bầu không khí, nguồn ước trong lành giúp người dân.Rất mong Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo cơ quan có chức năng của tỉnh Thái nguyên giải quyết giúp người dân. Trân trọng cảm ơn.
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Việc một nhà máy gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, kéo dài như bạn phản ánh thuộc trách nhiệm của UBND tỉnh Thái Nguyên, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận phản ánh của bạn và sẽ quan tâm đưa vào chương trình thanh tra năm tới. Để Bộ Tài nguyên và Môi trường có thể chỉ đạo được việc xử lý ô nhiễm tại cơ sở nêu trên, bạn cần có đơn phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường gửi UBND cấp huyện và cấp tỉnh để giải quyết, nếu UBND cấp tỉnh không giải quyết bạn có thể gửi đơn đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi đó Bộ sẽ có văn bản đề nghị UBND tỉnh xem xét giải quyết, báo cáo hoặc Bộ sẽ trực tiếp kiểm tra, xác minh để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
 
Lên phía trên
Giấy phép xả thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Công ty của chúng tôi hiện nay đã xây dựng HTXL nước thải công suất 100m3/ngaydem và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường QCVN 40 với lưu lượng thực tế xả là 70m3/ngay dem. Tuy nhiên, do nhu cầu tưới cây xanh trong khuôn viên công ty nên đã tái sử dụng hoàn toàn 100% nước thải sau xử lý. Vậy xin cho hỏi công ty chúng tôi có phải làm giấy phép xả nước thải vào nguồn nước hay không. Hiện tại công ty chúng tôi không xả thải ra môi trường mà tái sử dụng nước hòan toàn?

Lương Lưu Nhân , Quận Tân Bình, TPHCM.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời: 

Theo quy định của Luật tài nguyên nước và quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thì hành một số điều của Luật tài nguyên nước thì trường hợp Bạn của thuộc diện phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước. 

Trường hợp Bạn trữ nước thải sau khi đã xử lý đạt tiêu chuẩn trong ao, hồ thuộc phạm vi đất sử dụng hợp pháp của mình để để tưới cây thì cũng phải tuân thủ quy định tại Khoản 5 Điều 26 của Luật tài nguyên nước, bảo đảm không làm ô nhiễm đất, nguồn nước mặt, nước dưới đất tại khu vực đó, đồng thời phải tuân thủ Quy định về bảo vệ tài nguyên nước dưới đất ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. 
Lên phía trên
Xin hỏi dữ liệu tài nguyên nước bao gồm những gì?
Câu hỏi:
Xin hỏi dữ liệu tài nguyên nước bao gồm những gì?
Trả lời:
Theo Điều 3 Nghị định 102/2008/NĐ-CP quy định:
Dữ liệu tài nguyên nước phải là các bản chính, bản gốc gồm tài liệu, mẫu vật, số liệu đã được xử lý và lưu trữ theo quy định. Dữ liệu về tài nguyên nước bao gồm:
- Sốlượng, chất lượng nước mặt, nước dưới đất;
- Số liệu điều tra khảo sát thủy văn;
- Các dữ liệu về khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
- Quy hoạch lưu vực sông quản lý, khai thác, bảo vệ các nguồn nước quốc tế;
- Kết quả cấp, gia hạn, thu hồi trả lại giấy phép hành nghề khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, trám lấp giêngs khoan;
- Các dữ liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước.
 
Lên phía trên
Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê có phải làm thủ tục xin cấp phép khai thác, sử dụng nước không?
Câu hỏi:
Khi Doanh nghiệp Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê theo quy định của Luật đất đai, Luật tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật;Vậy doanh nghiệp có phải làm thủ tục xin cấp phép khai thác, sử dụng nước không? (Mai Trang, 24 tuổi, Lai Châu)
Trả lời:
Câu hỏi của bạn chưa nêu rõ quy mô, mục đích khai thác sử dụng nước của Doanh nghiệp nên Sở Tài nguyên và Môi trường Lai Châu trả lời như sau:
 
- Từ ngày 31/01/2014 trở về trước, khi Doanh nghiệp khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê theo quy định của Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật thì không phải xin cấp phép khai thác nước (quy định tại điểm d khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước xả nước thải vào nguồn nước – đã hết hiệu lực thi hành; điểm 4.1, mục 4, phần I. những quy định chung của Thông tư số 02/2005/TT_BTNMT ngày của Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004).
 
- Từ ngày 01/02/2014, căn cứ quy định tại điểm b, c, d, Điều 16, Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước. Doanh nghiệp khai thác sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê theo quy định của Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật thuộc một trong các trường hợp dưới đây phải xin cấp phép khai thác nước:
 
+ Khai thác sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với quy mô từ 0,1m3/giây trở lên;
 
+ Khai thác nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp từ 100 m3/ngày đêm;
 
+ Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 50kw trở lên.
 
Trên đây là trả lời của Sở Tài nguyên và Môi trường đối với câu hỏi “khi Doanh nghiệp khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê theo quy định của Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật có phải xin cấp phép khai thác nước không?
 
Lên phía trên
Cấp giấy phép xả thải
Câu hỏi:
Nếu chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp có thể tiến hành làm hồ sơ xin cấp Giấy phép xả thải được không? Thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Dương trả lời câu hỏi của Anh/Chị như sau:

• Về thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước: Căn cứ Khoản 1, Điều 33, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước thì Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) Đề án xả nước thải vào nguồn nước kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp chưa xả nước thải; báo cáo hiện trạng xả nước thải kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước;
c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước tiếp nhận tại vị trí xả nước thải vào nguồn nước; kết quả phân tích chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý đối với trường hợp đang xả nước thải. Thời điểm lấy mẫu phân tích chất lượng nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
d) Sơ đồ vị trí khu vực xả nước thải.
Như vậy về thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không yêu cầu phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
• Về trình tự cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước: theo quy định tại Điều 33, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP được quy định như sau
1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
a) Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nộp hai (02) bộ hồ sơ và nộp phí thẩm định hồ sơ theo quy định của pháp luật cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép còn phải nộp thêm một (01) bộ hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường của địa phương dự định đặt công trình;
b) Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ sau khi đã bổ sung mà vẫn không đáp ứng yêu cầu theo quy định thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép.

2. Thẩm định đề án, báo cáo thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép (sau đây gọi chung là đề án, báo cáo):
a) Trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định đề án, báo cáo; nếu cần thiết thì kiểm tra thực tế hiện trường, lập hội đồng thẩm định đề án, báo cáo. Trường hợp đủ điều kiện cấp phép, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép; trường hợp không đủ điều kiện để cấp phép thì trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép và thông báo lý do không cấp phép;
b) Trường hợp phải bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện đề án, báo cáo thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung cần bổ sung, hoàn thiện đề án, báo cáo. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hoặc lập lại đề án, báo cáo không tính vào thời gian thẩm định đề án, báo cáo. Thời gian thẩm định sau khi đề án, báo cáo được bổ sung hoàn chỉnh là hai mươi (20) ngày làm việc;
c) Trường hợp phải lập lại đề án, báo cáo, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung đề án, báo cáo chưa đạt yêu cầu, phải làm lại và trả lại hồ sơ đề nghị cấp phép.

3. Trả kết quả giải quyết hồ sơ cấp phép
Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận giấy phép.
Trân trọng!
Lên phía trên
Điều kiện về hồ sơ năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện đề án, dự án, báo cáo trong lĩnh vực tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Hồ sơ năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện đề án, dự án, báo cáo trong lĩnh vực tài nguyên nước cần có những gì?
Trả lời:
Theo Điều 11 Nghị định  60/2016/NĐ-CP quy định:

1. Tổ chức, cá nhân hành nghề khi thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch, lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước phải có hồ sơ chứng minh năng lực đáp ứng các quy định của Nghị định này.

2. Hồ sơ năng lực đối với trường hợp là tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước:

a) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao có kèm bản chính để đối chiếu các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 5 và các giấy tờ, tài liệu, hợp đồng để chứng minh việc đáp ứng yêu cầu đối với các hạng mục công việc có quy định điều kiện khi thực hiện (nếu có) theo quy định tại khoản 5 Điều 5 của Nghị định này;

b) Danh sách đội ngũ cán bộ chuyên môn, người được giao phụ trách kỹ thuật; bản sao có chứng thực hoặc bản sao có kèm bản chính để đối chiếu giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặc hộ chiếu, văn bằng đào tạo, giấy phép hành nghề (nếu có), hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng; các tài liệu, giấy tờ để chứng minh kinh nghiệm công tác của từng cá nhân đáp ứng yêu cầu quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 8 của Nghị định này;

c) Danh mục máy móc, thiết bị chuyên dùng được sử dụng để thực hiện đề án, dự án và tài liệu chứng minh việc đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 10 của Nghị định này.

3. Hồ sơ năng lực đối với trường hợp là cá nhân tư vấn độc lập thực hiện việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước:

a) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao có kèm bản chính để đối chiếu giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặc hộ chiếu, văn bằng đào tạo;

b) Các tài liệu, giấy tờ để chứng minh kinh nghiệm công tác của cá nhân đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 9 của Nghị định này.

4. Tổ chức, cá nhân hành nghề phải nộp hồ sơ năng lực cho cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu hoặc tổ chức cá nhân thuê lập đề án, báo cáo để làm căn cứ lựa chọn tổ chức, cá nhân đủ điều kiện về năng lực thực hiện đề án, dự án, báo cáo.
Lên phía trên
Việc xả thải theo hình thức tự thấm vào lòng đất có vi phạm luật tài nguyên nước hay không?
Câu hỏi:
Nhà máy sản xuất mủ Cao su của tôi nằm xa Khu dân cư, xả nước thải ra hồ sinh học của Nhà máy và tự thấm xuống đất với lưu lượng 22m3/ngày.đêm. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn. Vậy việc xả thải theo hình thức tự thấm vào lòng đất có vi phạm luật tài nguyên nước hay không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời: 
Nước thải như trường hợp Bạn nêu, mặc dù dù đã được xử lý đạt quy chuẩn nhưng vẫn là nươc thải. Vì vậy, theo quy định tại Khoản 5 Điều 26 của Luật TNN, hồ sinh học của Nhà Máy phải được chống thấm. Việc không chống thấm mà để tự thấm xuống đất là vi phạm pháp luật về TNN.
Lên phía trên
Điều kiện cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất?
Câu hỏi:
Để được cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất cần những điều kiện gì ?
Trả lời:
Trả lời:
Theo Điều 4, Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường  quy định Tổ chức, cá nhân hành nghề khoan nước khoan nước dưới đất cần có những điều kiện sau để được cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất:
1. Có quyết định thành lập tổ chức của cấp có thẩm quyền hoặc một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với tổ chức hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với nhóm cá nhân, hộ gia đình do cơ quan có thẩm quyền cấp.
2. Người đứng đầu tổ chức (Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc) hoặc người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật của tổ chức, cá nhân hành nghề (sau đây gọi chung là người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật) phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Đối với hành nghề khoan nước dưới đất quy mô nhỏ:
Có trình độ chuyên môn tốt nghiệp trung cấp trở lên thuộc các ngành địa chất (địa chất thăm dò, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa kỹ thuật), khoan và có ít nhất 02 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hành nghề hoặc công nhân khoan có tay nghề bậc 3/7 hoặc tương đương trở lên và có ít nhất 04 năm kinh nghiệm liên tục trong lĩnh vực hành nghề; đã trực tiếp tham gia thiết kế, lập báo cáo hoặc thi công khoan ít nhất 05 công trình khoan nước dưới đất.
Trường hợp không có một trong các văn bằng quy định nêu trên thì phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm liên tục trong lĩnh vực hành nghề, đã trực tiếp thi công ít nhất 10 công trình khoan nước dưới đất và phải có chứng nhận đã qua khóa tập huấn kỹ thuật về bảo vệ tài nguyên nước dưới đất trong hoạt động hành nghề khoan nước dưới đất do Cục Quản lý tài nguyên nước hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức;
b) Đối với hành nghề khoan nước dưới đất quy mô vừa:
Có trình độ chuyên môn tốt nghiệp đại học trở lên thuộc các ngành địa chất (địa chất thăm dò, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa kỹ thuật), khoan và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hành nghề hoặc tốt nghiệp trung cấp trở lên thuộc các ngành địa chất (địa chất thăm dò, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa kỹ thuật), khoan và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hành nghề; đã trực tiếp tham gia lập đề án, báo cáo thăm dò, thiết kế hệ thống giếng khai thác hoặc chỉ đạo thi công ít nhất 05 công trình khoan nước dưới đất có lưu lượng từ 200 m3/ngày đêm trở lên;
c) Đối với hành nghề khoan nước dưới đất quy mô lớn:
Có trình độ chuyên môn tốt nghiệp đại học trở lên thuộc các ngành địa chất (địa chất thăm dò, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa kỹ thuật), khoan và có ít nhất 07 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hành nghề; đã trực tiếp tham gia lập đề án, báo cáo thăm dò, thiết kế hệ thống giếng khai thác hoặc chỉ đạo thi công ít nhất 03 công trình khoan nước dưới đất có lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên;
d) Người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật phải là người của tổ chức, cá nhân hành nghề hoặc có hợp đồng lao động với tổ chức, cá nhân hành nghề theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp hợp đồng lao động là loại xác định thời hạn thì tại thời điểm nộp hồ sơ, thời hạn hiệu lực của hợp đồng lao động phải còn ít nhất là 12 tháng.
3. Máy khoan và các thiết bị thi công khoan phải bảo đảm có tính năng kỹ thuật phù hợp đáp ứng quy định tại Điều 10 Nghị định này.
Lên phía trên
Doanh nghiệp phải có Giấy phép xả thải thì mới được phép xả nước thải sau xử lý vào nguồn tiếp nhận?
Câu hỏi:
Doanh nghiệp phải có Giấy phép xả thải thì mới được phép xả nước thải sau xử lý vào nguồn tiếp nhận hay chỉ xử lý nước thải đạt Quy chuẩn quy định về xả nước thải thì được phép xả nước thải vào nguồn tiếp nhận?
Trả lời:
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật về TNN, Doanh nghiệp phải có Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước mới được phép xả nước thải vào nguồn nước đó.
Lên phía trên
Thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước đối với đầu tư mở rộng sản xuất và đầu tư xây dựng thêm hệ thống xử lý nước thải mới?
Câu hỏi:
Nhà máy sản xuất có hệ thống xử lý nước thải đã được cấp phép xả thải. Sau đó nhà máy này đầu tư mở rộng sản xuất và đầu tư xây dựng thêm hệ thống xử lý nước thải mới bên cạnh hệ thống xử lý nước thải cũ đã được cấp phép. Tại thời điểm giấy phép xả thải hiện nay đã sắp hết hạn, Công ty muốn làm hồ sơ xin cấp phép xả thải cho cả 2 hệ thống xử lý (Hệ thống xử lý giai đoạn 2 mới đang trong giai đoạn xây dựng).
Như vậy trong trường hợp này Công ty sẽ phải làm “Báo cáo xả thải” hay làm “Đề án xả thải”?
Công ty có cần phải làm gia hạn xả thải cho hệ thống cũ nữa hay không?
Trả lời:
Trả lời:

Trường hợp này Công ty phải lập Báo cáo xả nước thải nguồn nước theo như quy định hướng dẫn lập Báo cáo tại Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 trong đó phải báo cáo rõ những nội dung hiện trạng của hệ thống xử lý đang có và phương án xử lý đối với hệ thống xử lý mới được xây dụng.

Công ty không làm hồ sơ gia hạn cho hệ thống xử lý nước thải cũ mà ghép chung với nội dung Bao cáo xả thải.
Lên phía trên
Thủ tục xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Cơ sở sản xuất của tôi có phát sinh nước thải đến mức phải cấp phép, tuy nhiên quanh vị trí cơ sở không có sông, suối, hồ, mương thoát nước, nước thải sau sản xuất được xử lý qua các ao và tự thấm xuống đất. Như vậy cơ sở chúng tôi có phải làm thủ tục xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước.
Trả lời:
Trả lời:
Việc xả nước thải vào lòng đất thông qua các giếng khoan, giếng đào, tự thấm xuống đất và tất cả các hình thức khác nhằm đưa nước thải vào trong lòng đất; gian lận trong việc xả nước thải là các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Luật Tài nguyên nước. Như vậy, cơ sở sản xuất của bạn xả nước thải chưa qua xử lý hoặc sau khi xử lý vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào đều là vi phạm hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước. 
Lên phía trên
Cá nhân tư vấn độc lập thực hiện việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước cần phải đáp ứng những điều kiện?
Câu hỏi:
Cá nhân tư vấn độc lập thực hiện việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước cần phải đáp ứng những điều kiện nào?
Trả lời:
Đối với cá nhân tư vấn độc lập thực hiện việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định 60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường đó là:

-  Là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài có giấy phép lao động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về lao động;

-  Có văn bằng đào tạo trình độ từ đại học trở lên, chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ được giao. Các văn bằng này được các cơ sở đào tạo của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp theo quy định của pháp luật;

 Đồng thời,  theo Điều 9 Nghị định  60/2016/NĐ-CP, cá nhân tư vấn độc lập thực hiện việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước cần đảm bảo các điều kiện sau đây:

1. Chuyên ngành đào tạo phải phù hợp với loại đề án, báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này.

2. Kinh nghiệm công tác:

a) Đối với việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường phải có ít nhất 15 năm kinh nghiệm và đã là người phụ trách kỹ thuật của ít nhất 07 đề án, báo cáo;

b) Đối với việc lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có ít nhất 08 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên nước và đã là người phụ trách kỹ thuật của ít nhất 05 đề án, báo cáo.

3. Cùng một thời điểm, cá nhân tư vấn độc lập chỉ được nhận tư vấn lập 01 đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.
Lên phía trên
Điều kiện đối với đội ngũ cán bộ chuyên môn của tổ chức lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Điều kiện đối với đội ngũ cán bộ chuyên môn của tổ chức lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 8 Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định điều kiện đối với đội ngũ cán bộ chuyên môn của tổ chức lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước như sau:

1. Số lượng cán bộ chuyên môn:

a) Đối với đề án, báo cáo thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Có ít nhất 03 cán bộ được đào tạo các chuyên ngành quy định tại khoản 2 của Điều này;

b) Đối với đề án, báo cáo thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có ít nhất 02 cán bộ được đào tạo các chuyên ngành phù hợp với quy định tại khoản 2 của Điều này.

2. Chuyên ngành đào tạo:

a) Đối với đề án, báo cáo khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển: Bao gồm các chuyên ngành đào tạo liên quan đến nước mặt, nước biển (thủy văn, hải văn, thủy văn công trình, thủy văn môi trường, kỹ thuật tài nguyên nước);

b) Đối với đề án, báo cáo thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất: Bao gồm các chuyên ngành đào tạo liên quan đến nước dưới đất (địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, khoan thăm dò, địa vật lý, địa kỹ thuật);

c) Đối với đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước: Bao gồm các chuyên ngành đào tạo liên quan đến môi trường (khoa học môi trường, công nghệ môi trường, kỹ thuật môi trường, quản lý môi trường).

3. Kinh nghiệm công tác:

a) Đối với đề án, báo cáo thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường hoặc đã trực tiếp tham gia lập ít nhất 03 đề án, báo cáo. Trong đó, người phụ trách kỹ thuật của đề án, báo cáo phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm hoặc đã trực tiếp tham gia lập ít nhất 05 đề án, báo cáo;

b) Đối với đề án, báo cáo thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có ít nhất 02 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường hoặc đã trực tiếp tham gia lập ít nhất 01 đề án, báo cáo. Trong đó, người phụ trách kỹ thuật của đề án, báo cáo phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm hoặc đã trực tiếp tham gia lập ít nhất 03 đề án, báo cáo.

4. Cùng một thời điểm, người phụ trách kỹ thuật của đề án, báo cáo chỉ đảm nhận phụ trách kỹ thuật tối đa không quá 03 đề án, báo cáo.
Lên phía trên
Quy định về điều kiện đối với người phụ trách kỹ thuật khi tham gia vào các đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Khi tham gia vào các đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước những người phụ trách kỹ thuật cần phải có điều kiện gì ?
Trả lời:
Theo Điều 6 Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường quy định:

1. Đối với đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước:

a) Chuyên ngành đào tạo: Được đào tạo một trong các chuyên ngành về thủy văn, hải văn, địa chất thủy văn, kỹ thuật môi trường, kỹ thuật tài nguyên nước;

b) Kinh nghiệm công tác: Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm trong hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước, lập quy hoạch tài nguyên nước hoặc đã tham gia thực hiện ít nhất 03 đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước;

c) Cùng một thời điểm, chỉ đảm nhận phụ trách kỹ thuật tối đa không quá 03 đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước.

2. Đối với dự án lập quy hoạch tài nguyên nước:

a) Chuyên ngành đào tạo: Được đào tạo một trong các chuyên ngành về thủy văn, địa chất thủy văn, kỹ thuật môi trường, kỹ thuật tài nguyên nước;

b) Kinh nghiệm công tác: Có ít nhất 07 năm kinh nghiệm trong hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước, lập quy hoạch tài nguyên nước hoặc đã tham gia thực hiện ít nhất 05 đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước;

c) Cùng một thời điểm, chỉ đảm nhận phụ trách kỹ thuật tối đa không quá 02 dự án lập quy hoạch tài nguyên nước.
Lên phía trên
Quy định về điều kiện năng lực chuyên môn của tổ chức tham gia thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Những cán bộ chuyên môn của tổ chức tham gia thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước cần phải đảm bảo những điều kiện nào?
Trả lời:
Theo Điều 6 Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường:

1. Đối với tổ chức thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước:

a) Cơ cấu chuyên môn: Có ít nhất 05 cán bộ được đào tạo các chuyên ngành liên quan đến nước mặt, nước biển (thủy văn, hải văn, thủy văn công trình, thủy văn môi trường, kỹ thuật tài nguyên nước), nước dưới đất (địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, khoan thăm dò, địa vật lý, địa kỹ thuật), môi trường (khoa học môi trường, công nghệ môi trường, kỹ thuật môi trường, quản lý môi trường), quản lý tài nguyên nước hoặc các chuyên ngành đào tạo khác có liên quan đến tài nguyên nước. Cơ cấu cán bộ chuyên môn phải phù hợp với nội dung cụ thể của từng đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước;

b) Kinh nghiệm công tác: Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm liên quan đến hoạt động điều tra cơ bản, quy hoạch tài nguyên nước hoặc đã trực tiếp tham gia thực hiện ít nhất 02 đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước.

2. Đối với tổ chức thực hiện dự án lập quy hoạch tài nguyên nước:

a) Cơ cấu chuyên môn: Có ít nhất 07 cán bộ được đào tạo các chuyên ngành liên quan đến nước mặt, nước biển (thủy văn, hải văn, thủy văn công trình, thủy văn môi trường, kỹ thuật tài nguyên nước), nước dưới đất (địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, khoan thăm dò, địa vật lý, địa kỹ thuật), môi trường (khoa học môi trường, công nghệ môi trường, kỹ thuật môi trường, quản lý môi trường), quản lý tài nguyên nước hoặc các chuyên ngành đào tạo khác có liên quan đến tài nguyên nước. Cơ cấu cán bộ chuyên môn phải phù hợp với nội dung cụ thể của từng dự án lập quy hoạch tài nguyên nước;

b) Kinh nghiệm công tác: Có ít nhất 04 năm kinh nghiệm liên quan đến hoạt động điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước hoặc đã trực tiếp tham gia thực hiện ít nhất 03 đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước.
Lên phía trên
V/v tái sử dụng bùn thải của hệ thống xử lý nước thải để đưa chung vào lò sản xuất gạch làm phụ gia tăng nhiệt lượng sản xuất gạch?
Câu hỏi:
Chúng tôi là Công ty chuyên sản xuất gạch. Hiện nay chúng tôi đang có nhu cầu tái sử dụng bùn thải của hệ thống xử lý nước thải của một doanh nghiệp cùng tỉnh để đưa chung vào lò sản xuất gạch làm phụ gia tăng nhiệt lượng sản xuất gạch (bùn thải này đã được sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai chứng nhận là chất thải rắn công nghiệp thông thường qua kết quả phân tích đúng quy định). Nhưng chúng tôi lại được Sở hướng dẫn là phải đợi Bộ ban hành Thông tư về làm Phương án về tái sử dụng chất thải rắn thông thường và quy định về xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường thì Sở mới có ý kiến cho chúng tôi làm.
Vậy xin được hỏi, khi nào thì Bộ mới có các quy định này để chúng tôi có thể tái sử dụng chất thải thông thường vào quy trình sản xuất. Trong khi chưa có quy định thì chúng tôi vẫn tiến hành làm có được không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Bùn thải được thu gom từ hệ thống xử lý nước thải khi đã được phân định không phải là chất thải nguy hại thì được quản lý theo quy định về quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo quy định tại Chương IV của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu. Việc sử dụng bùn thải (phát sinh từ cơ sở khác trong cùng tỉnh) làm phụ gia trong quá trình sản xuất gạch như bạn nêu là hoạt động là hoạt động được khuyến khích theo quy định của Luật bảo vệ môi trường và các quy định dưới luật có liên quan. Do hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Thông tư về quản lý chất thải thông thường, quản lý sản phẩm thải bỏ và tiêu hủy xe ưu đãi miễn trừ nên trong thời gian trước mắt nên đối với mỗi vụ việc cụ thể nếu hoạt động nêu trên không phù  hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc các hồ sơ, giấy tờ khác đã được phê duyệt thì cần có văn bản báo cáo cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường (kèm theo bản mô tả chi tiết hoạt động nêu trên) để được xem xét, hướng dẫn. Trong trường hợp hoạt động nêu trên phù hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc các hồ sơ, giấy tờ khác thì được phép thực hiện với điều kiện đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo quy định.
 
 
Lên phía trên
Công ty tôi có được xả nước thải đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn loại A vào nguồn tiếp nhận mà tại đó không còn khả năng tiếp nhận nước thải không?
Câu hỏi:
Tôi xin hỏi quý cơ quan về nội dung sau:
Tôi đang xin cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. nguồn tiếp nhận là suối ông Tấn, suối này tiếp nhận nước thải của 01 nhà hàng phục vụ ăn uống và nước thải của Công ty Tôi. Công ty tôi đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải phát sinh, kết quả phân tích hàng năm cho thấy đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 40 (cột A). Theo quy định tôi phải Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước theo quy định, tuy nhiên khi đánh giá xong thì suối không còn khả năng tiếp nhận nước thải. Kết quả phân tích nước cho thấy nước suối đa bị ô nhiễm một số chất. Tôi xin hỏi: Công ty tôi có được xả nước thải đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn loại A vào nguồn tiếp nhận nói trên không? Nếu không thì vì sao?
2. Công ty Tôi trước đây chỉ xử lý nươc thải sinh hoạt bằng hệ thống bể tự hoại, theo kết quả phân tích thì đều đạt QCVN (loại B), sau đó chảy vào hệ thống thoát nước chung của khu vực thì có được cấp giấy phép xả nước thải hay không?
Trả lời:
Trả lời:
Khả năng tiêp nhận nước thải của nguồn nước là một trong nhưng yêu cầu, điều kiện khi xem xét, thẩm định hồ sơ cấp phép. Trường hợp nguồn nước tiếp nhận nước thải của Công ty không còn khả năng tiếp nhận nước thải với các thông số ô nhiễm có trong nước thải của Công ty sau khi xử lý đạt đến QCVN 40, cột A thì Công ty phải có biện pháp xử lý nước thải bảo đảm các thông số này đạt Quy chuẩn ở mức cao hơn cột A trước khi xả vào nguồn nước tiếp nhận. Hoặc Công ty có thể lựa chọn nguồn nước tiếp nhận khác còn khả năng tiếp nhận.
Lên phía trên
Quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Công ty Tôi trước đây chỉ xử lý nươc thải sinh hoạt bằng hệ thống bể tự hoại, theo kết quả phân tích thì đều đạt QCVN (loại B), sau đó chảy vào hệ thống thoát nước chung của khu vực thì có được cấp giấy phép xả nước thải hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước, việc xả nước thải vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung mà hệ thống đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và có thỏa thuận hoặc hợp đồng xử lý, tiêu thoát nước thải với tổ chức, cá nhân quản lý vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đó thì Công ty không phải xin cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Trường hợp hệ thống thoát nước chúng của khu vực chưa được cấp giấy phép xả nước thải, Công ty của bạn phải được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
Lên phía trên
Tôi muốn khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và để chăm nuôi thì có phải xin phép không?
Câu hỏi:
Hiện tôi muốn khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và để chăm nuôi thì có phải xin phép không? Xin tại cơ quan nào? Thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai xin trả lời như sau:
 
1. Trường hợp phải xin phép thuộc thẩm quyền cấp tỉnh: Tổ chức, cá nhân  khai thác  nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô từ 10m3/ngày đêm trở lên đến dưới 3000m3/ngày đêm. Hồ sơ nộp tại Sở Tài nguyên và Môi trường  (Mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường), gồm:
 
+ Đơn đề nghị cấp giấy phép (mẫu số 03).
 
+ Sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác nước dưới đất.
 
+ Báo cáo kết quả thăm dò đánh giá trữ lượng nước dưới đất kèm theo phương án khai thác đối với công trình có quy mô từ 200m3/ngày đêm trở lên (mẫu số 25); báo cáo kết quả thi công giếng khai thác đối với công trình có quy mô nhỏ hơn 200m3/ngày đêm (mẫu số 26) trong trường hợp chưa có công trình khai thác; báo cáo hiện trạng khai thác đối với công trình khai thác nước dưới đất đang hoạt động (mẫu số 27);
 
+ Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá sáu (06) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ.
 
Trường hợp chưa có công trình khai thác nước dưới đất, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải nộp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
 
Trường hợp quy mô thăm dò, khai thác nước dưới đất từ 3000m3/ngày đêm trở lên thì nộp hồ sơ tại Cục Quản lý Tài nguyên nước và Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép.
 
2. Trường hợp đăng ký khai thác nước dưới đất thuộc thảm quyền cấp huyện:
 
Hộ gia đình, cá nhân có giếng khoan khai thác nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm; giếng khoan khai thác nước dưới đất cho sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân có chiều sâu lớn hơn 20 m thì phải thực hiện việc đăng ký khai thác nước dưới đất.
 
Hồ sơ nộp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện (hoặc UBND cấp xã), gồm: Hai (02) tờ khai quy định tại Mẫu số 38 Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
 
3. Trường hợp không phải xin phép, không phải đăng ký:
 
Khai thác nước dưới đất phục vụ cho sinh hoạt của hộ gia đình, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm và không thuộc Danh mục khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất.
 
Lưu ý: Đơn vị, cá nhân hành nghề khoan nước dưới đất phải có Giấy phép hành nghề khoan với quy mô phù hợp theo quy định tại Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT ngày 11/7/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hành nghề khoan nước dưới đất.
 
Trân trọng!
 
Lên phía trên
Nộp phí tài nguyên nước được tính như thế nào?
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng 630m3, nhưng khi đi nộp phí tài nguyên nước do tính toán dựa vào lượng nước khai thác mức phí công ty phải nộp chỉ 440m3. Công ty đã nộp mức phí trên được 1 quý. Vậy cho tôi hỏi liệu công ty có vi phạm luật tài nguyên nước không và phải sửa thế nào?
Trả lời:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hoà Bình trả lời như sau:

Với câu hỏi đã nêu thì chưa rõ Công ty đang xả nước thải vào nguồn nước là Công ty nào, địa chỉ cụ thể ở đâu, sản xuất, kinh doanh ngành nghề gì, được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước ( số, ngày, tháng, năm nào ?); và việc nộp phí tài nguyên nước là phí gì (chúng tôi hiểu là phí bảo vệ môi trường đối với nước thải). Do vậy, Chúng tôi chỉ có thể trả lời được một số nội dung như sau:

Căn cứ Căn cứ Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, ngày 21/6/2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước (trước kia là  Luật Tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước).

Việc cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được thực hiện theo Báo cáo xả nước thải vào nguồn do đơn vị tư vấn lập căn cứ theo Báo cáo ĐTM hoặc Bản cam kết bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong đó có quy định lưu lượng xả tối đa là mức xả cao nhất mà Công ty được phép xả ra theo thiết kế. Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện căn cứ vào lưu lượng nước xả thực tế theo báo cáo quan trắc đã quy định. Lượng nước thải xả ra thực tế của công ty là 440 m3 thấp hơn giấy phép được cấp là 630 m3 (nằm trong giới hạn cho phép). Do đó Công ty không vi phạm quy định của Luật tài nguyên nước nên không cần thiết phải chỉnh sửa./.
Lên phía trên
Thẩm quyền xử phạt vi phạm lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Câu hỏi:
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị tăng mức xử phạt và tăng thẩm quyền xử phạt cho UBND các cấp, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý về tài nguyên và môi trường ngay từ cấp cơ sở.
Trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Tư pháp trả lời cử tri tỉnh Lào Cai như sau:


Mức phạt tối đa đến 1 tỷ đồng

Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, về cơ bản đã quy định mức phạt tiền tối đa nói chung trong các lĩnh vực so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008).

Đối với lĩnh vực điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, thì mức phạt tiền tối đa đến 250 triệu đồng; quản lý rừng, lâm sản, đất đai phạt tiền đến 500 triệu đồng; riêng thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, phạt tiền đến 1 tỷ đồng.

Các mức phạt tiền tối đa trên đã được nghiên cứu, cân nhắc kỹ nhằm bảo đảm tính răn đe, giáo dục, tính khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa vi phạm hành chính hiện nay.

Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND các cấp

Điều 28, 29 và 30 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008) quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của UBND các cấp như sau: 

- Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 2 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính đến 2 triệu đồng.

- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 30 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực, có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Trong khi đó, Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND các cấp như sau:

- Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 10% mức phạt tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng được quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền thuộc thẩm quyền.

- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 50% mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền thuộc thẩm quyền.

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực; có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (không giới hạn giá trị).

Theo đó, thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch UBND các cấp trong lĩnh vực tài nguyên môi trường đều ở ngưỡng tối đa 5 triệu đồng đối với cấp xã và 50 triệu đồng đối với cấp huyện. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt tiền ở mức tối đa tuỳ từng lĩnh vực (đối với lĩnh vực điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, thì phạt tiền đến 250 triệu đồng; riêng lĩnh vực quản lý rừng, lâm sản, đất đai thì phạt tiền đến 500 triệu đồng; riêng lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, thì phạt tiền đến 1 tỷ đồng).

Quy định về thẩm quyền phạt tiền trên là thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân. Đối với tổ chức thì thẩm quyền này tăng lên gấp đôi.

Như vậy, thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch UBND các cấp, trong đó đặc biệt là cấp huyện đã được tăng lên tương ứng với các mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong đó thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch UBND các cấp trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nhìn chung đã được tăng lên gấp đôi so với quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng ngừa vi phạm hành chính hiện nay và bảo đảm tính răn đe, giáo dục chung.

Tuy nhiên cần lưu ý rằng, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm bị hạn chế theo thẩm quyền phạt tiền, do đó, thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành của Chủ tịch UBND cấp xã và cấp huyện có sự hạn chế hơn so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính vì Pháp lệnh không quy định việc giới hạn giá trị. Trong trường hợp giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lớn hơn so với thẩm quyền phạt tiền thì vụ việc vi phạm hành chính phải chuyển lên cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm cao hơn.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013. Như vậy, tính đến nay Luật mới có hiệu lực trong thực tế với khoảng thời gian tương đối ngắn (hơn 6 tháng). Do vậy, cần có thời gian để triển khai bảo đảm để các quy định của Luật đi vào cuộc sống. Trường hợp qua thực tiễn áp dụng có phát sinh những bất cập, hạn chế, không phù hợp với thực tiễn (bao gồm cả vấn đề về mức phạt tiền tối đa và thẩm quyền phạt tiền nêu trên) thì Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, báo cáo đề xuất Chính phủ để báo cáo Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Lên phía trên
Nộp thuế tài nguyên nước
Câu hỏi:
Tôi xin hỏi câu hỏi liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước như sau:
Cơ sở sản xuất tư nhân A được cấp giấy phép khai thác nước dưới đất (không phải khai thác nước khoáng) với lưu lượng 30m3/ngày đêm để sử dụng vào mục đích sản xuất nước lọc đóng chai và đóng bình. Vậy cơ sỏ này có phải nộp thuế tài nguyên không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Trả lời Theo quy định tại Điều 7 của Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, thì tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên (nước mặt và nước dưới đất) tinh lọc đóng chai phải nộp thuế tài nguyên với mức thuế suất 8-10%. 
 
Vì vậy, trường hợp Bạn hỏi thuộc diện phải nộp thuế tài nguyên.
 
Lên phía trên
Những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về tài nguyên nước
Câu hỏi:
Hiện nay, một số địa phương chưa thấy hết được trách nhiệm quản lý tài nguyên nước. Vậy, những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về tài nguyên nước là gì?
Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 57 Luật Tài nguyên nước, nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước, bao gồm:
 
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước; phòng chống và khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra;
 
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về tài nguyên nước;
 
- Quản lý công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước; dự báo khí tượng thủy văn, cảnh báo lũ, lụt, hạn hán và các tác hại khác do nước gây ra; tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tài liệu về tài nguyên nước;
 
- Cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước;
 
- Quyết định biện pháp, huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán, xử lý sự cố công trình thủy lợi và các tác hại khác do nước gây ra;
 
- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước; giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước;
 
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên nước; thực hiện điều ước quốc tế về tài nguyên nước mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia;
 
- Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo cán bộ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước.
Lên phía trên
Tổ chức nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước
Câu hỏi:
Ở nước ta hiện nay, tổ chức nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước?
Trả lời:

Theo quy định của Luật Tài nguyên nước thì Chính phủ thống nhất quản lý tài nguyên nước về tài nguyên nước.

 
Theo nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, trong đó quy định Bộ TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Bộ trưởng Bộ TN&MT đã ban hành Quyết định số 600/2003/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 5 năm 2003 quy định, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý tài nguyên nước. Cục Quản lý tài nguyên nước là đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã thành lập các Sở TN&MT, trong đó có các Phòng Quản lý tài nguyên nước có chức năng giúp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.
Lên phía trên
Giải pháp ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường sông Kẻ Sặt
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị các Bộ, ngành chức năng có giải pháp ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường sông Kẻ Sặt là ranh giới giữa 2 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên do một số khu công nghiệp của 02 tỉnh đổ nước thải ra gây ô nhiễm nguồn nước nghiên trọng (Cử tri tỉnh Hải Dương).
1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trả lời:
Vấn đề cử tri nêu, hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về bảo vệ môi trường các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, trong đó đã quy định các yêu cầu đối với các khu công nghiệp thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm phát sinh từ các khu công nghiệp gồm có: yêu cầu hoàn thành các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục … Bên cạnh đó, năm 2016 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 về bảo vệ môi trường đối với CCN, khu kinh doanh dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, trong đó đã quy định về quan trắc, giám sát môi trường đối với tất cả các cơ sở (bao gồm các cơ sở nằm trong KCN).

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh Hải Dương và Hưng Yên để tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm tại các KCN trên địa bàn 2 tỉnh.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
 

Lên phía trên
Giải pháp quyết liệt tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về vệ sinh môi trường
Câu hỏi:
Hiện nay, một số khu công nghiệp, các nhà máy, cơ sở sản xuất xả nước thải và khói bụi chưa qua xử lý ra môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Cử tri đề nghị Chính phủ cần phải xem xét kỹ lưỡng khâu quy hoạch các dự án, không xây dựng các nhà máy sản xuất sắt thép, phân bón, xi măng, khu công nghiệp, làng nghề gần khu dân cư. Đồng thời, các cơ quan chức năng có giải pháp quyết liệt tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về vệ sinh môi trường (Cử tri tỉnh Ninh Bình).
Trả lời:

1.  Về quy hoạch các dự án, không xây dựng các nhà máy sản xuất sắt thép, phân bón, xi măng, khu công nghiệp, làng nghề: Theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2014, Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoach bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường thi đối với các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại, làng nghề, dự án xây dựng cơ sở sản xuất sắt thép, xi măng, dự án xây dựng kho chứa thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đều thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường. Khoản 2 Điều 19 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn chuẩn bị dự án và phải được các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường thẩm định và phê duyệt trước khi triển khai xây dựng dự án; Khoản 2 Điều 27 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định chủ dự án “Phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định. Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường”. Tùy thuộc vào quy mô của dự án, các cơ quan trung ương hoặc địa phương sẽ tiến hành thẩm định đảm bảo dự án tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường khi triển khai xây dựng, trong đó sẽ có các quy định về vị trí xây dựng phải đảm bảo cách xa khu dân cư theo quy định pháp luật; đồng thời tổ chức kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường đối với dự án trước khi đi vào vận hành chính thức.

2.  Về giải pháp tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về vệ sinh môi trường: Trong thời gian từ năm 2011-2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chú trọng và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT trên phạm vi cả nước; đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với 3.440 cơ sở, KCN và CCN (cơ sở), phát hiện 2.087 tổ chức vi phạm (chiếm 60%), với tổng tiền phạt trên 280 tỷ đồng, buộc truy thu phí BVMT đối với nước thải trên 127 tỷ đồng, bồi thường thiệt hại cho người dân gần 220 tỷ đồng, đồng thời buộc các tổ chức vi phạm phải đầu tư các công trình xử lý chất thải đạt QCVN với số tiền lên đến hang ngàn tỷ đồng. Riêng năm 2016, đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 952 cơ sở (trong đó, thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch đối với 815 cơ sở tại 32 tỉnh/thành phố; thanh tra diện rộng đối với 137 cơ sở có nước thải trên 500 m3/ngày tại 22 tỉnh/thành phố và thanh tra đột xuất đối với 11 cơ sở). Kết quả thanh tra, kiểm tra nhận thấy có 203/952 cơ sở (chiếm 21,6%) không vi phạm, còn lại hầu hết các cơ sở đều có các vi phạm về thủ tục hành chính và quản lý chất thải với mức phạt tiền trên 140 tỷ đồng, buộc bồi thường thiệt hại cho người dân số tiền trên 1,4 tỷ đồng và 500 triệu USD. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là tại các địa phương; vi phạm diễn ra khá phổ biến, tinh vi, một số địa phương xử lý chưa nghiêm; nguồn nhân lực làm công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu và yếu về nghiệp vụ; phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm chưa được đầu tư nên khó khăn trong việc phát hiện vi phạm.

Để khắc phục tồn tại trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục thực hiện một số giải pháp để tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra đáp ứng yêu cầu gồm: (i) Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. thanh tra, kiểm tra, đảm bảo cho hoạt động này chủ động, linh hoạt, đúng pháp luật, không chồng chéo, không làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp; (ii) Tăng cường nhân lực, năng lực, cơ sở vật chất và phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm về môi trường theo quy định của Nghị định số 165/2013/NĐ-CP của Chính phủ; (iii) Kiện toàn tổ chức và xây dựng hệ thống thanh tra chuyên ngành môi trường từ Trung ương đến địa phương, trước mắt kiến nghị Chính phủ cho phép sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012, trong đó bổ sung chức năng thanh tra chuyên ngành môi trường cho Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh/thành phố. Bên cạnh đó, Bộ sẽ tăng cường công tác giám sát các nguồn thải, đặc biệt là các nguồn thải lớn (có lưu lượng xả thải từ 1.000 m3/ngày và các KCN tập trung; các cơ sở có lưu lượng xả khí thải lớn thuộc các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm như: sản xuất sắt thép, phân bón, xi măng, …), đồng thời yêu cầu các cơ sở này phải có hệ thống quan trắc tự động, liên tục nước thải, khí thải tại điểm xả thải và kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, kh kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trường hợp không thực hiện sẽ xử lý nghiêm theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Rà soát quy định cụ thể về lắp đặt hệ thống xả thải nhằm xử lý có hiệu quả vấn đề xả thải ra môi trường
Câu hỏi:
Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường tại Điều 101 (Hệ thống xử lý nước thải), Khoản 2 Điểm d (Hệ thống xử lý nước thải phải đảm bảo các yêu cầu sau: … Cửa xả nước thải vào hệ thống tiêu thoát phải đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát). Tuy nhiên, hiện Nghị định, Thông tư hướng dẫn, các quy chuẩn của Bộ Tài nguyên và Môi trường có liên quan thì chưa có điều khoản nào quy định cụ thể cho phép hay không cho phép việc các doanh nghiệp lắp đặt hệ thống xả thải ngầm hoặc không ngầm, nên các doanh nghiệp lợi dụng vấn đề này để lắp đặt hệ thống xả thải ngầm ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường, tác hại đến sức khỏe nhân dân và khó khăn cho công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, rà soát lại quy định trên để tham mưu cho Chính phủ ban hành hướng dẫn cụ thể nhằm xử lý có hiệu quả vấn đề xả thải ra môi trường (Cử tri tỉnh Quảng Ngãi)
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì các KCN, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thải ra môi trường, không phân biệt hệ thống xử lý nước thải và nổi hay ngầm. Đồng thời, hoạt động xả nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp dù thải nổi hay ngầm đều được quan trắc định kỳ theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận hoặc các hồ sơ, giấy tờ tương đương theo quy định của pháp luật. Các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài khu công nghiệp có quy mô xả nước thải từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục, truyền số liệu trực tiếp cho Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương. Như vậy, việc thu gom, xử lý nước thải tại các cơ quan quản lý nhà nước về môi giám sát thường xuyên thông qua theo dõi quan trắc tự động của doanh nghiệp cũng như hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về xả thải.

Trong trường hợp cần thiết, căn cứ Điểm d, Khoản 2 Điều 101 Luật bảo vệ môi trường năm 2014, trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án (hoặc kiểm tra các đề án bảo vệ môi trường hoặc trong quá trình kiểm tra, thanh tra), cơ quan quản lý môi trường có quyền xem xét, yêu cầu chủ dự án (hoặc chủ cơ sở) xây dựng, lắp đặt hệ thống xả thải nổi (hoặc nửa nổi) đảm bảo vừa phù hợp thực tế vừa thuận tiện cho việc kiểm tra, giám sát.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Giải pháp giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, ô nhiễm nguồn nước, không khí trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề?
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, ô nhiễm nguồn nước, không khí trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề đang rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, sinh hoạt của người dân. Cử tri đề nghị có giải pháp quyết liệt để giải quyết tình trạng trên; đặc biệt là bảo vệ nguồn nước ngầm và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân (Cử tri tỉnh Thái Bình)
Trả lời:
1.  Đối với ô nhiễm môi trường nông thôn, làng nghề:

Môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm bởi chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, các loại vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật, nước thải, chất thải trong nông nghiệp và chăn nuôi, các nghĩa trang, nhà tiêu không hợp vệ sinh, chất thải y tế khu vực nông thôn, hoạt động của các làng nghề, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, nguồn nước không hợp vệ sinh. Để từng bước khắc phục vấn đề ô nhiễm moi trường nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố sẽ thực hiện một số biện pháp cụ thể như sau:

-  Hoàn thành chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường nông thôn, trong đó tập trung vào việc quy định tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên cơ sở lượng hóa các nội dung đánh giá và công nhận đạt chuẩn; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật để các địa phương áp dụng;

-  Trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020, bên cạnh việc tập trung tái cấu trúc nông nghiệp, tăng năng suất, phải chú trọng công tác bảo vệ môi trường nông thôn;

-  Quy hoạch khu vực sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khu vực nông thôn; chú ý đầu tư thu gom, xử lý nước thải; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến cấp nước sạch, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh. Đầu tư nghiên cứu, xây dựng và phát triển các mô hình quản lý, xử lý chất thải phù hợp với điều kiện khu vực nông thôn, trong đó cần bố trí diệc tích phù hợp để chon lấp chất thải rắn hợp vệ sinh hoặc tái chế chất thải tại các cụm dân cư; tránh tình trạng chất thải sinh hoạt nông thôn được xử lý thiếu quy hoạch. Kiểm soát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu gom xử lý chất thải y tế. Sớm nghiên cứu giải quyết vấn đề chất thải nông nghiệp như rơm, rạ sau thu hoạch;

-  Triển khai phân loại rác tại nguồn, đặc biệt là tại các hộ gia đình để giảm tổng lượng chất thải cần xử lý; tận dụng chất thải hữu cơ để tái chế thành phân bón sử dụng trong trồng trọt;

-  Huy động nguồn tài chính, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác cho hoạt động bảo vệ môi trường khu vực nông thôn; lồng ghép trong quá trình thực hiện tiêu chí môi trường trong công nhận nông thôn mới. Bên cạnh đầu tư từ ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh xã hội hóa để huy động nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn nói chung và cho việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (trong đó có vấn đề về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề …) nói riêng;

-  Tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý dứt điểm những điểm nóng về môi trường, công khai thông tin vi phạm theo quy định của pháp luật để tạo áp lực buộc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường;

-  Quy hoạch các khu làng nghề tập trung. Rà soát, đánh giá các công nghệ, giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất tại làng nghề hoặc các mô hình đã vận hành bảo đảm có hiệu quả trước khi phổ biến, nhân rộng; ưu tiên các biện pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn phát sinh, tăng cường tận thu, tái chế, tái sử dụng chất thải tại làng nghề như cụm công nghiệp tập trung;

2.     Đối với ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN:

Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tăng cường thực hiện thanh tra, kiểm tra nhiều cơ sở sản xuất trên địa bàn cả nước, trong đó có các KCN, đồng thời phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức kiểm tra, đôn đốc các KCN nhanh chóng hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về môi trường của KCN. Tỷ lệ các KCN đã hoạt động và có hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) đã tăng lên đáng kể. Mặc dù đã có những cải thiện nhưng thực tế vẫn tồn tại một số KCN có cơ sở thứ cấp đi vào hoạt động, chưa hoàn thành hệ thống XLNTTT. Thực tế này có một số nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do lịch sử để lại, song chủ yếu vẫn là do ý thức tuân thủ, năng lực của đơn vị đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn tới hoạt động đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN chưa đáp ứng quy định. Bên cạnh đó, vẫn còn có tình trạng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện thủ tục cấp phép đầu tư cho các dự án đẩu tư vào KCN mặc dù KCN chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường.

Từ thực tế này, để giải quyết tồn tại đối với những KCN đang hoạt động nhưng chưa có hệ thống XLNTTT theo quy định, Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, ngành tăng cường kiểm tra, giám sát đồng thời đôn đốc các KCN này hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường theo đúng quy định. Vì vậy, vấn đề xử lý nước thải của KCN cần có thời gian và lộ trình để giải quyết triệt để. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2012 đã đặt ra mục tiêu tỷ lệ khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu đến năm 2015 là 75% và đến năm 2020 đạt 95%.

Để khắc phục những bất cập, tồn tại nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành địa phương thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

-  Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 thì cả nước sẽ có 142 khu công nghiệp được ưu tiên thành lập mới và mở rộng. Trong quá trình hoạt động, các khu công nghiệp mới vẫn tiếp tục được Chính phủ đồng ý bổ sung vào quy hoạch và thành lập mới. Do đó cần phải thực hiện việc rà soát, đánh giá tổng thể về tác động môi trường việc phát triển các khu công nghiệp hiện nay.

-  Trong số hơn 500 khu công nghiệp đã được đưa vào quy hoạch tới năm 2020 mới chỉ có 283 khu công nghiệp hoạt động. Như vậy, theo định hướng phát triển còn khoảng hơn 200 khu công nghiệp nữa sẽ được thành lập và đi vào hoạt động. Điều này sẽ tạo ra áp lực môi trường rất lớn. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan kiên quyết yêu cầu các khu công nghiệp này thực hiện đúng quy định pháp luật, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động. Đối với các khi công nghiệp hiện nay đã đi vào hoạt động nhưng chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường, kiến nghị Chính phủ chỉ đạo không cho phép thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp hoặc thực hiện thủ tục mở rộng khu công nghiệp.

-  Tập trung thanh tra, kiểm tra các khu công nghiệp còn lại chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung để giám sát chất lượng nước thải ra môi trường theo các quy định pháp luật hiện hành; tăng cường kiểm tra, giám sát việc vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đối với khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

-  Xây dựng quy định hướng dẫn việc kết nối hệ thống quan trắc nước thải tự động từ các khu công nghiệp tới các Sở Tài nguyên và Môi trường đồng thời đôn đốc chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp đầu tư hệ thống quan trắc nước thải tự động theo quy định của pháp luật.

-  Phối hợp với các địa phương đôn đốc, tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành kịp thời hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu kinh tế, khu công nghiệp; giám sát chặt chẽ việc thu hút đầu tư các ngành nghề phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt để giảm thiểu rủi ro trong quá trình thiết kế, thi công và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Các giải pháp ngăn chặn, khắc phục và xử lý kịp thời có hiệu quả các hành vi gây ô nhiễm môi trường?
Câu hỏi:
Cử tri cả nước tiếp tục phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng nhiều và phức tạp. Đề nghị Nhà nước, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, khắc phục và xử lý kịp thời có hiệu quả các hành vi gây ô nhiễm môi trường (Cử tri tỉnh Vĩnh Long)
Trả lời:

Trong thời gian gần đây, các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn biến phức tạp, tinh vi, đặc biệt là các vi phạm về xả thải vượt quy chuẩn. Các doanh nghiệp tìm cách trốn tránh nghĩa vụ đầu tư hệ thống xử lý chất thải, chi phí vận hành xử lý nên che đậy bằng các phương thức tinh vi (xả lén, xả về đêm hoặc trời mưa, …) rất khó kiểm soát; trong khi hoạt động kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước bị ràng buộc thực hiện trong giờ hành chính, phải thông báo trước cho cơ sở được kiểm tra, trình tự thủ tục phải tuân theo Luật thanh tra, nên các cơ sở có biện pháp đối phó gây khó khăn trong việc bắt quả tang các hành vi nêu trên. Do đó, việc phát hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường cần có sự phối hợp tham gia của cộng đồng, cơ quan truyền thông. Khi phát hiện vi phạm, cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã khẩn trương, tích cực, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của các bên liên quan.

Hiện nay, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, dự án sản xuất trên phạm vi cả nước rất lớn, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ có thể thanh, kiểm tra luân phiên 02 năm/lần/dự án. Để kiểm soát, hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường, Luật bảo vệ môi trường đã quy định các nguồn thải lớn (từ 1.000 m3/ngày và các KCN tập trung) phải có hệ thống quan trắc tự động, liên tục tại điểm xả thải và kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường. Khi xảy ra sự cố ô nhiễm nghiêm trọng, các cơ quan chức năng và Bộ Tài nguyên và Môi trường phải vào cuộc để xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm các vi phạm. Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở địa phương đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường, đặc biệt là các cơ sở có nguồn thải lớn và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường, đặc biệt là các cơ sở có nguồn thải lớn và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng cường kiểm soát hoạt động xả thải của doanh nghiệp (quy định phải có hệ thống quan trắc tự động, lắp camera theo dõi, có hồ sinh học, điểm xả thải phải dễ kiểm soát, …). Về lâu dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ kiến nghị Quốc hội, Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi quy định pháp luật đề hoạt động thanh tra môi trường được chủ động, linh hoạt; ngoài ra, bổ sung giao chức năng thanh tra chuyên ngành cho Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để tăng cường trách nhiệm, thẩm quyền choc ơ quan quản lý môi trường ở địa phương.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v Lập các Đoàn kiểm tra việc ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp?
Câu hỏi:
Cử tri kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường lập các Đoàn kiểm tra việc ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp (Cử tri tỉnh Long An)
Trả lời:

Trong thời gian từ năm 2011-2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chú trọng và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT trên phạm vi cả nước; đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với hơn 400 KCN, CCN. Qua thanh tra, kiểm tra đã chấn chỉnh, yêu cầu các cơ sở thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời hướng dẫn các cơ sở được thanh tra thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ môi trường. Do vậy, công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, CCN đã có những chuyển biến tích cực, hiện tại, đã có khoảng 75% các KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại khoảng 25% các KCN đang tiến hành đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong số các KCN này, chủ yếu là các KCN ở những địa bàn khó khan, thu hút đầu tư chậm, tỷ lệ lấp đầy thấp, chưa huy động được nguồn vốn đầu tư (chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách nhà nước), lượng nước thải phát sinh ít, do vậy các địa phương đang yêu cầu các dự án đầu tư vào KCN phải tự xử lý nước thải phát sinh.

Ngày 25/11/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban Quyết định số 2704/QĐ-BTNMT phê duyệt kế hoạch thanh tra năm 2017 trong đó sẽ thanh tra các KCN, CCN trên địa bàn cả nước và triển khai trong quý II năm 2017, tăng cường phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Qua thanh tra, kiểm tra, nếu phát hiện các KCN, CCN có vi phạm về bảo vệ môi trường, sẽ xử lý nghiêm theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)

 
Lên phía trên
Tăng cường kiểm tra, giám sát các nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường để bảo vệ sức khỏe cho người dân
Câu hỏi:
Cử tri rất quan tâm đến các nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc có những tồn tại trong chấp hành luật về bảo vệ môi trường, trong đó chủ yếu là nhà máy nhiệt điện, phân bón, khai thác nhôm, sản xuất thép, dệt may. Đề nghị tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo vệ sức khỏe cho người dân (Cử tri thành phố Hồ Chí Minh)
Trả lời:
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở có nguồn thải lớn và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; đang tiến hành rà soát, lập danh sách đối với các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để đưa vào giám sát đặc biệt trong năm 2017 nhằm tăng cường hơn nữa việc kiểm soát hoạt động xả thải của doanh nghiệp (quy định phải có hệ thống quan trắc tự động, lắp camera theo dõi, có hồ sinh học, điểm xả thải phải dễ kiểm soát, …) và tiếp tục thực hiện một số giải pháp để tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra đáp ứng yêu cầu gồm: (i) Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, thanh tra, kiểm tra, đảm bảo cho hoạt động này chủ động, linh hoạt, đúng pháp luật, không chồng chéo, không làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp; (ii) Tăng cường nhân lực, năng lực, cơ sở vật chất và phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm về môi trường theo quy định của Nghị định số 165/2013/NĐ-CP của Chính phủ; (iii) Kiện toàn tổ chức và xây dựng hệ thống thanh tra chuyên ngành môi trường từ Trung ương đến địa phương, trước mắt kiến nghị Chính phủ cho phép sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012, trong đó bổ sung chức năng thanh tra chuyên ngành môi trường cho Chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố.
Bên cạnh đó, Bộ sẽ tăng cường công tác giám sát các nguồn thải, đặc biệt là các nguồn thải lớn (có lưu lượng xả thải từ 1.000 m3/ngày và các KCN tập trung; các cơ sở có lưu lượng xả khí thải lớn thuộc các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm như: sản xuất sắt thép, phân bón, xi măng, nhiệt điện …), đồng thời yêu cầu các cơ sở này phải có hệ thống quan trắc tự động, liên tục nước thải, khí thải tại điểm xả thải và kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường theo đúng quy định tại Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trường hợp không thực hiện sẽ xử lý nghiêm theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Giải pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường?
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị Chính phủ có những giải pháp chỉ đạo quyết liệt để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay (Cử tri tỉnh Yên Bái)
Trả lời:

Để sớm khắc phục những hạn chế, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm, tạo bước chuyển biến căn bản trong công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng kinh tế phải song hành với bảo vệ môi trường, hướng đến tăng trưởng xanh và phát triên bề vững; thực hiện thành công Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường; công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cần tập trung vào 08 nhóm giải pháp cơ bản sau:

-  Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như việc tổ chức triển khai pháp luật trên thực tế, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Triển khai xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật bảo vệ môi trường, trong đó sửa đổi ngay các bất cập về đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường, quản lý chất thải, thực hiện cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính; thể chế hóa các chính sách áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong bảo vệ mô trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, khôi phục cảnh quan, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, xử lý các bãi thải trong khai thác khoáng sản. Rà soát, đề xuất điều chỉnh các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho phù hợp với điều kiện trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế, kết hợp với thải lượng chất ô nhiễm và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận. Xây dựng hệ thống tiêu chí về môi trường làm cơ sở lựa chọn, sanglọc loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất phục vụ cho việc thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư.

-  Coi trọng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý về môi trường; tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả trong quá trình thực thi nhiệm vụ công vụ, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý trong tình hình mới; đề xuất phương án cho cả hệ thống từ Trung ương đến địa phương; phân định rõ trách nhiệm giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý môi trường, đặc biệt trong bảo vệ môi trường môi trường làng nghề, nông thôn, xử lý các làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng.

-  Nghiên cứu, xây dựng quy hoạch môi trường, trong đó điều chỉnh các quy hoạch về chất thải rắn, chất thải nguy hại làm căn cứ điều chỉnh các quy hoạch ngành, thẩm định, đánh giá và cho phép triển khai các dự án nhạy cảm về môi trường.

-  Tổ chức điều tra, đánh giá, lập danh sách các lĩnh vực công nghiệp, các loại hình, địa bàn nhạy cảm có khả năng xảy ra sự cố môi trường để có kế hoạch kiểm tra, giám sát, chủ động phòng ngừa, giảm thiểu sự cố môi trường. Trên cơ sở đó xác định các đối tượng chính có tiềm ẩn gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường yêu cầu các dự án này thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ứng phó với sự cố môi trường (quan trắc, lấy mẫu tự động; xây dựng hồ điều hòa, áp dụng chỉ thị sinh học; …).

-  Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát các dự án lớn, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố, ô nhiễm môi trường. Thông qua đó xử lý nghiêm, có tính răn đe đối với các hành vi vi phạm, đồng thời kịp thời tháo gỡ vướng mắc về chính sách, pháp luật, giúp các địa phương làm tốt công tác quản lý nhà nước trên địa bàn. Xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài. Trong năm 2017, đặc biệt tập trung thanh tra, kiểm tra các cơ sở có lưu lượng nước thải từ 200 m3/ngày.đêm trở lên trên phạm vi cả nước, các đối tượng do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, các đối tượng có loại hình sản xuất, công nghệ sản xuất lạc hậu, nguồn thải lớn, xả thải ra những khu vực nhạy cảm về môi trường như ven biển, lưu vực sông; xử lý nghiêm các cơ sở có hành vi vi phạm.

-  Nghiên cứu, xây dựng cơ chế đột phá trong huy động nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường, đặc biệt là cơ chế huy đồng nguồn lực trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “Người hưởng lợi từ môi trường phải trả chi phí” để đầu tư lại cho bảo vệ môi trường.

-  Tăng cường phối hợp giữa Trung ương và địa phương; đẩy mạnh thực hiện giao chỉ tiêu môi trường, tăng cường chế độ thông tin, báo cáo và đánh giá kết quả triển khai theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 để kết nối hệ thống trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữa Trung ương, cơ quan môi trường cấp vùng với địa phương. Xây dựng cơ chế đối thoại, phối hợp giữa cơ quan môi trường Trung ương và địa phương trong lĩnh vực môi trường, trong đó chú trọng giải quyết tốt các thủ tục hành chính về môi trường; kịp thời lắng nghe, ghi nhận và giải quyết thỏa đáng các khó khăn, vướng mắc, góp ý của địa phương và có biện pháp tháo gỡ về cả chuyên môn và tài chính trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Giải pháp về nguồn nước ngọt sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất cho người dân tỉnh Bến Tre?
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị Chính phủ quan tâm về chính sách nước ngọt cho Bến Tre, bởi lẽ với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay và theo kịch bản thì đến năm 2030 Bến Tre bị ngập mặn hoàn toàn là chuyện chắc chắn xảy ra, nếu không chuẩn bị ngay từ bây giờ thì đến lúc đó sẽ không có nguồn nước ngọt sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất (Cử tri tỉnh Bến Tre)
Trả lời:

Để ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, giải quyết những vấn đề về sử dụng nguồn nước tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong đó có tỉnh Bến Tre, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang thực hiện những giải pháp sau đây:

Đã chủ động phối hợp với Bộ ngành liên quan chuẩn bị các nội dung để đề nghị Trung Quốc xả nước trong chương trình Hội nghị Cấp cao Mê Công – Lan Thương tổ chức vào ngày 23/3/2016 tại Trung Quốc; chỉ đạo Ủy ban sông Mê Công Việt Nam thúc đẩy Ủy hội sông Mê Công quốc tế thống nhất các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm và đảm bảo dòng chảy về hạ du; có thư đề nghị Trung Quốc tăng cường xả nước từ các công trình thủy điện ở Vân Nam trong mùa khô năm 2016.

Chỉ đạo Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia theo dõi sát diễn biến thời tiết, tăng cường dự báo, nhận định về khí tượng thủy văn, nguồn nước. Giao Cục Quản lý tài nguyên nước và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia sẵn sang hỗ trợ kỹ thuật, nhân lực, thiết bị để thực hiện tìm kiếm nguồn nước ngọt; hỗ trợ các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng và Cà Mau, mỗi địa phương 500 triệu đồng.

Xây dựng tiểu Dự án “Đầu tư nâng cấp và hoàn thiện hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên nước mặt tại ĐBSCL” thuộc Dự án Sinh kế bền vững cho vùng ĐBSCL với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới. Đặc biệt, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành “Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công” do Tư vấn quốc tế DHI của Đan Mạch thực hiện, kết thúc vào tháng 12/2015 tạo cơ sở khoa học để trao đổi với các quốc gia ven sông về kế hoạch xây dựng các công trình thủy điện dòng chính hướng tới sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mê Công.

Trong thời gian tới, Bộ sẽ đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ Ủy hội sông Mê Công quốc tế để giải quyết hài hòa các vấn đề về các công trình thủy điện trên dòng chính. Tiếp tục đưa vấn đề phát triển thủy điện dòng chính vào các thỏa thuận cấp cao với Lào và Campuchia; huy động nguồn lực của quốc gia để tập trung đàm phán, thuyết phục, đấu tranh để các quốc gia có các hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức phù hợp, ít nhất cũng bằng mức trung bình như chúng ta đã và đang làm như vậy khi vận hành các hồ trên lưu vực sông Sê San, Srêpôk để bảo đảm nguồn nước cho Campuchia. Đẩy mạnh công tác theo dõi, giám sát các tác động của thủy điện dòng chính thông qua mạng giám sát của Ủy hội sông quốc tế; chủ động đối thoại với các nước bạn về kế hoạch và tình hình triển khai các công trình thủy điện dòng chính theo các kênh hợp tác đa phương và song phương; chủ động xây dựng Kế hoạch hành động thích ứng với các tác động; tăng cường hoạt động xây dựng các công cụ hỗ trợ ra quyết định như: tăng cường mạng theo dõi giám sát tác động trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu lưu vực; xây dựng các công cụ theo dõi, giám sát và đánh giá tác động …

Thành lập Ủy ban lưu vực sông Cửu Long để tăng cường công tác điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra trên đồng bằng nhằm giải quyết hài hòa, có hiệu quả, bền vững các vấn đề tài nguyên nước giữa các bên liên quan, giữa thượng lưu, hạ lưu và giữa khai thác với bảo vệ. Tập trung xây dựng quy hoạch tài nguyên nước ĐBSCL, gắn với kịch bản BĐKH và các khuyến nghị của chuyên gia Hà Lan trong Kế hoạch châu thổ ĐBSCL. Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực, trên cơ sở khả năng thực tế của nguồn nước và những dự báo về biến động nguồn nước, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng theo các Kịch bản đã được công bố, nhất là những khuyến nghị của Hà Lan trong Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v đề nghị xem xét điều chỉnh chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, môi trường và khoáng sản theo hướng xử lý nghiêm khắc hơn để răn đe và phòng ngừa vi phạm
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị xem xét điều chỉnh chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, môi trường và khoáng sản theo hướng xử lý nghiêm khắc hơn để răn đe và phòng ngừa vi phạm (Cử tri Quảng Ninh)
Trả lời:

Về nội dung xem xét điều chỉnh chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin tiếp thu, nghiên cứu để tham mưu Chính phủ xây dựng, ban hành Nghị định thay thế Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong thời gian tới.

Về nội dung điều chỉnh chế tài xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Việc ban hành Nghị định 155/2016/NĐ-CP sẽ tác động mạnh mẽ đến ý thực và nhận thức của cá nhân, tổ chức phải đầu tư kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường là cao nhất trong các lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam (Mức phạt tiền cảnh cáo đến 01 tỷ đồng đối với cá nhân và 02 tỷ đồng đối với tổ chức). Trước đây, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP đã có tính răn đe cao, tuy nhiên nhiên Nghị định 155/2016/NĐ-CP hiện nay còn có tính răn đe cao hơn đối với các hành vi cố y gây ô nhiễm môi trường (như trước đây hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn cho phép trên 10 lần với lưu lượng nước thải trên 10.000 m3/ngày đêm thì mức phạt tiền là tối đa, hiện nay chỉ cần xả nước thải vượt trên 10 lần với lưu lượng lớn hơn 5.000 m3/ngày đêm  nhưng dưới mức tội phạm môi trường theo quy định của Bộ luật Hình sự thì đã bị xử phạt ở mức tối đa). Bên cạnh hình thức phạt tiền Nghị định số 155/2016/NĐ-CP còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung (đình chỉ hoạt động, tước quyền sử dụng giấy phép môi trường, tịch thi tang vật vi phạm), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc khắc phục lại tình trạng ô nhiễm môi trường đã bị ô nhiễm và phục hồi môi trường bị ô nhiễm) và công khai thông tin đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường hoặc tác động xấu đến xã hội,…

Ngoài công cụ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định Nghị định số 155/2016/NĐ-CP nêu trên, ngày 27/11/2015 Quốc hội đã thông qua Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13, trong đó đã định lượng các hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường để xử lý trách nhiệm đối với cá nhân, tổ chức vi phạm. Hiện tại Bộ Luật hình sự đang được Ủy ban Tư pháp Quốc hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Đây là một công cụ hữu hiệu để răn đe cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh trách nhiệm để thực hiện các hành vi cố ý gây ô nhiễm môi trường.

Về nội dung điều chỉnh chế tài xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực khoáng sản, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 về việc tăng cường hiệu lực thi hành chính sách, phát luật về khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 (thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Trong đó, đã đề xuất tăng mức xử phạt, bổ sung các hành vi cần xử phạt vi phạm hành chính nhằm tăng cường trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản.

Đối với hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp đã được quy định hình thức và mức xử phạt bằng tiền tại Điều 21 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (đã được điều chỉnh, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015).

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v đề nghị các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm minh, nhằm hạn chế thấp nhất việc xả thải ra môi trường
Câu hỏi:
Cử tri cho rằng, tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi ngày càng phức tạp là do chính con người gây ra: các cơ sở, doanh nghiệp, công ty sản xuất xả thải ra môi trường… Tuy nhiên, các cơ quan quản lý không phát hiện mà do các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải thì các cơ quan mới vào cuộc, bên cạnh việc xử lý chưa nghiêm nên việc xả thải vẫn tiếp diễn. Cử tri đề nghị các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm minh, nhằm hạn chế thấp nhất việc xả thải ra môi trường; cung cần quy trách nhiệm cụ thể đối với người đứng đầu địa phương để xảy ra tình trạng ô nhiễm (Cử tri tỉnh An Giang).
Trả lời:

1. Về tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm minh, nhằm hạn chế thấp nhất việc xả thải ra môi trường:

Trong thời gian gần đây, các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn biến phức tạp, tinh vi, đặc biệt là các vi phạm về xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Các doanh nghiệp tìm cách trốn tránh nghĩa vụ đầu tư hệ thống xử lý chất thải, chi phí vận hành xử lý nên che đậy bằng các phương thức tinh vi (xả lén, xả về đêm hoặc trời mưa,…) rất khó kiểm soát; trong khi hoạt động kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước bị ràng buộc thực hiện trong giờ hành chính, phải thông báo trước cho cơ sở được kiểm tra, trình tự thủ tục phải tuân theo Luật thanh tra, nên các cơ sở có biện pháp đối phó gây khó khăn trong việc bắt quả tang các hành vi nêu trên. Do đó, việc phát hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường cần có sự phối hợp tham gia của cộng đồng, cơ quan truyền thông. Khi phát hiện vi phạm, cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã khẩn trương, tích cực, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như trách nhiệm của các bên liên quan.

Hiện nay, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, dự án sản xuất trên phạm vi cả nước rất lớn, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ có thể thanh, kiểm tra luân phiên 02 năm/lần/dự án. Để kiểm soát, hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường, Luật bảo vệ môi trường đã quy định các nguồn thải lớn) (từ 1.000m3/ngày và các KCN tập trung) phải có hệ thống quan trắc tự động, liên tục tại điểm xả thải và kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường. Khi xảy ra sự cố ô nhiễm nghiêm trọng, các cơ quan chức năng và Bộ Tài nguyên và môi trường phải vào cuộc để xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm các vi phạm. Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở địa phương đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường, đặc biệt là các cơ sở có nguồn thải lớn và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng cường kiểm soát hoạt động xả thải của doanh nghiệp (quy định phải có hệ thống quan trắc tự động, lắp camera theo dõi, có hồ sinh học, điểm xả thải phải dễ kiểm soát,…) Về lâu dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ kiên nghị Quốc hội, Chính phủ cần nghiên cứu thay đổi quy đinh pháp luật về hoạt động thanh tra môi trường chủ động, linh hoạt hơn trong hoạt động; ngoài ra, bổ sung giao chức năng thanh tra chuyên ngành cho Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để tăng cường trách nhiệm, thẩm quyền cho cơ quan quản lý môi trường ở địa phương.

2.Về trách nhiệm cụ thể đối với người đứng đầu địa phương để xảy ra tình trạng ô nhiễm:

Đối với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý, đã có các quy định cụ thể tại Luật bảo vệ môi trường năm 2014 (Khoản 16 Điều 7 - những hành vi bị nghiêm cấm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường; Điều 143 – trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân các cấp) và bộ Luật hình sự (chương XXIII – các tội phạm về chức vụ). Bên cạnh đó, để khắc phục những hạn chế, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm, ngày 31/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 25/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường, trong đó yêu cầu chủ đầu tư, cơ quan quyết định, phê duyệt đầu tư, thẩm định công nghệ sản xuất, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường của dự án. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề môi trường xảy ra trên địa bàn.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v vấn đề ô nhiễm sông Cầu
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh mặc dù đã có dự án Tăng cường năng lực quản lý môi trường nước lưu vực sông Cầu, nhưng nước sông Cầu hiện nay vẫn bị ô nhiễm, một số đoạn chảy qua địa phận các huyện Việt Yên, Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang có tình trạng cá, tôm chết hàng loạt, nước sông có mùi khó chịu…(Cử tri tỉnh Bắc Giang).
Trả lời:

Dự án tăng cường năng lực quản lý môi trường nước lưu vực sông bắt đầu triển khai từ tháng 1 năm 2016 bởi tổ chức JICA (Nhật Bản). Mục tiêu dài hạn của dự án là cải thiện chất lượng môi trường nước lưu vực sông tại Việt Nam thông qua việc tăng cường năng lực quản lý cho các cơ quan Trung ương và địa phương. Trong năm 2016, dự án JICA đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thành công các lớp tập huấn cơ bản cho 03 tỉnh trên lưu vực sông Cầu là Bắc Giang, Bắc Ninh và Thái Nguyên và 01 chương trình tham quan học tập trao đổi kinh nghiệm quản lý môi trường nước lưu vực sông giữa các tỉnh trên lưu vực sông Cầu và các tỉnh, thành phố trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.

Ngoài ra, trong các năm qua, Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có nhiều văn bản nhằm triển khai thực hiện Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu. Hàng năm, Ủy ban Bảo vệ môi trường sông Cầu tổ chức đoàn công tác đi kiểm tra tình hình triển khai Đề án, tình hình thống kê, quản lý các nguồn thải của các tỉnh trên lưu vực sông Cầu, những khó khăn vướng mắc và kiến nghị của các địa phương được ghi nhận và hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đều có báo cáo gủi Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, với các vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra đột xuất, Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu luôn phối hợp với Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường kịp thời thành lập đoàn công tác để giải quyết các vấn đề nóng, vấn đề ô nhiễm môi trường lưu vực sông liên tỉnh. Trong năm 2016, thành lập đoàn công tác đi kiểm tra, khảo sát đoạn giáp ranh 02 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang theo đơn khiếu kiện về cá chết từ người dân Bắc Giang.

Tuy nhiên, đến nay, môi trường nước lưu vực sông Cầu vẫn còn bị ô nhiễm, nước sông có mùi khó chịu, nguyên nhân là do:

-  Hoạt động của Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu còn nhiều hạn chế. Việc kết nối thông tin và phối hợp công tác chủ yếu giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương còn thiếu sự tham gia của các Bộ, ngành khác;

-  Các địa phương chưa thống kê, kiểm soát được đầy đủ các nguồn thải trên địa bàn, vì vậy chưa xác định được nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giám sát, quản lý. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa quyết liệt và triệt để;

-  Vai trò của cộng đồng trong việc tham gia công tác bảo vệ môi trường tuy đã chuyển biến tích cực như chủ động thu gom rác, giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh, nhưng chưa được phát huy mạnh mẽ trong công tác giám sát, phản ánh các hành động gây ô nhiễm môi trường.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với dự án JICA cũng như chủ động tiếp tục triển khai các hoạt động nhằm triển khai Đề án Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, cụ thể:

- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao vai trò của Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu trong công tác chỉ đạo, điều phối các hoạt động bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu;

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai Đề án tổng thể lưu vực sông tại địa phương thuộc lưu vực sông Cầu;

-  Nghiên cứu, đề xuất cơ chế tăng cường nguồn lực tài chính để triển khai Đề án;

-  Hướng dẫn các tỉnh thực hiện hoạt động kiểm kê, xác định các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường, thống nhất các chỉ số môi trường cần thống kê, theo dõi và báo cáo;

-  Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin môi trường cho lưu vực sông Cầu; chủ trì rà soát, tăng cường hệ thống quan trắc, nhất là hệ thống quan trắc tự động và giám sát môi trường trên toàn lưu vực, ban hành định mức kỹ thuật quan trắc môi trường đối với nước thải sinh hoạt và sản xuất;

-  Phối hợp dự án JICA triển khai thực hiện các dự án thí điểm, xây dựng và ban hành được các văn bản về quản lý môi trường nước lưu vực sông.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do sinh hoạt nguồn nước, rác thải, khí thải, do hoạt động vi phạm của các nhà máy, khu công nghiệp và chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản gây ra ngày càng nghiêm trọng
Câu hỏi:
Cử tri bức xúc trước tình trạng ô nhiễm môi trường do sinh hoạt nguồn nước, rác thải, khí thải, do hoạt động vi phạm của các nhà máy, khu công nghiệp và chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản gây ra ngày càng nghiêm trọng. Tuy nhiên, biện pháp xử lý hành chính, phạt tiền chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi này gây ra. Cử tri kiến nghị Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, xử lý nghiêm nâng mức chế tài và cần thiết có thể áp dụng chế tài hình sự đối với những vi phạm nêu trên (Cử tri các tỉnh: Đồng Tháp, Ninh Thuận).
Trả lời:

Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành rà soát các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lớn, tiềm ẩn nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường trên diện rộng; trên cơ sở kết quả rà soát đã thành lập các Tổ công tác liên ngành, chương trình kiểm tra định kỳ, chế độ giám sát đặc biệt như quan trắc online tự động liên tục và kết nối số liệu trực tuyến với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Trung ương cũng như địa phương, xây dựng hồ sinh học để kiểm chứng chất lượng nước thải sau khi xử lý khi thải ra ngoài môi trường đảm bảo chủ động phòng ngừa, không để xảy ra các sự cố, thảm họa môi trường từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

Hiện nay, cùng với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lú vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Bộ tài nguyên và Môi trường đã tập trung hoàn thiện các thể chế, chính sách có liên quan; đặc biệt đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghị định này sẽ có tác động mạnh mẽ đến ý thức và nhận thức của cá nhân, tổ chức trong công tác bảo vệ môi trường; buộc cá nhân, tổ chức phải đầu tư kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường là cao nhất trong các lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam (mức phạt tiền từ cảnh cáo đến 01 tỷ đồng đối với cá nhân và 02 tỷ đồng đối với tổ chức). Trước đây, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP đã có tính răn đe cao, tuy nhiên Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ hiện nay còn có tính răn đe cao hơn đối với các hành vi cố ý gây ô nhiễm môi trường (như trước đây hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn cho phép trên 10 lần với lưu lượng nước thải trên 10.000 m3/ngày đêm thì mức phạt tiền là tối đa, hiện nay chỉ cần xả nước thải vượt trên 10 lần với lưu lượng lớn hơn 5.000 m3/ngày đêm nhưng dưới mức tội phạm môi trường theo quy định của Bộ luật Hình sự thì đã bị xử phạt ở mức tối đa). Bên cạnh hình thức phạt tiền, Nghị định này còn quy định các hình thức phạt bổ sung (đình chỉ hoạt động, tước quyền sử dụng giấy phép môi trường, tịch thu tang vật vi phạm), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc khắc phục lại tình trạng ô nhiễm môi trường đã bị ô nhiễm và phục hồi môi trường bị ô nhiễm) và công khai thông tin đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường hoặc tác động xấu đến xã hội,…

Ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ nêu trên, ngày 27/11/2015 Quốc hội đã thông qua Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13, trong đó đã định lượng các hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường để xử lý trách nhiệm đối với cá nhân, tổ chức vi phạm. Hiện tại Bộ Luật hình sự đang được Ủy ban Tư pháp Quốc hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để sửa đổi cho phfu hợp với thực tiễn. Đây là một công cụ hữu hiệu để răn đe cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh trách nhiệm để thực hiện các hành vi cố ý gây ô nhiễm môi trường.

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
V/v tăng cường các biện pháp nhằm giảm tình trạng ô nhiễm nước, sông Đáy, sông Nhuệ
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị nhà nước chỉ đạo Bộ, ngành có biện pháp nhằm giảm tình trạng ô nhiễm nước, sông Đáy, sông Nhuệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người (Cử tri tỉnh Hà Nam).
Trả lời:
Trong thời gian vừa qua, Nhà nước đã có nhiều cố gắng, nỗ lực như: thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông (sau đây gọi tắt là Ủy ban BVMT LVS) Nhuệ - sông Đáy; phê duyệt và triển khai Đề án Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương trên lưu vực sông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường nước của lưu vực sông. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai nội dung của các Đề án Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đã được phê duyệt.

Hiện nay, xử lý ô nhiễm môi trường nước sông Tô Lịch và sông Nhuệ - sông Đáy đã và đang được phối hợp và tích cực triển khai đồng bộ ở cấp Trung ương và địa phương, đặc biệt là thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng môi trường nước sông Tô Lịch, sông Nhuệ - Đáy vẫn còn tiếp tục bị ô nhiễm, đặc biệt đáng báo động đối với các đoạn sông chảy qua các đô thị. Nguyên nhân là do nguồn thải từ các làng nghề, cơ sở sản xuất dịch vụ; nước thải sinh hoạt từ các đô thị chưa có biện pháp đầu tư xử lý ô nhiễm, vẫn tiếp tục đổ ra sông. Việc huy động nguồn lực để xử lý vào khu vực này là rất khó khăn do nguồn vốn lớn và chưa rõ trong cơ chế hoạt động của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông cũng như chưa rõ trong trách nhiệm huy động nguồn lực của các địa phương.

Về giải pháp, trước tiên cần làm rõ cơ chế phân công triển khai giữa các địa phương trong lưu vực. Đối với sông Nhuệ - sông Đáy, 90% nước thải ra lưu vực là từ Hà Nội, 10% còn lại xuất phát từ Hòa Bình, Hà Nam và một số địa phương khác. Như vậy, Hà Nội phải là địa phương chịu trách nhiệm chính về vấn đề môi trường của sông Nhuệ - sông Đáy.

Thứ hai, về công nghệ và huy động nguồn lực. Bên cạnh các mô hình xử lý nước thải tập trung, cần tính toán tới giải pháp xây dựng các mô hình xử lý nước thải phân tán, công nghệ phân tán, thu gom nước thải dọc theo bờ sông. Đồng thời, phải có giải pháp bổ sung nguồn nước, khơi thông dòng chảy, bảo vệ môi trường các vùng thủy sinh, kè bờ sông v.v. Để huy động được nguồn lực, bên cạnh việc tăng cường nguồn vốn ODA, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, cần xem xét lựa chọn mô hình phù hợp để khuyến khích được doanh nghiệp tham gia đầu tư như mô hình hợp tác công tư để để giải quyết vấn đề thu gom, xử lý nước thải (tuy nhiên cần lưu ý tới việc thường sẽ có những áp đặt nhất định về công nghệ nếu sử dụng nguồn vốn ODA). Rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong triển khai thực hiện dự án đầu tư theo mô hình hợp tác công tư. Dần dần tiếp cận nguyên tắc người gây ô nhiễm thì phải trả tiền, theo đó tất cả các làng nghề phải xử lý tập trung từ rác thải, nước thải và phải chi trả chi phí xử lý. Đối với nước thải sinh hoạt, Nhà nước phải đảm bảo kinh phí để có thể vận hành các hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, đối với mỗi dòng sông, nếu có đầy đủ các điều kiện về vốn, công nghệ, cách thức thu gom, xử lý cho đến các mô hình quản trị, các mô hình 3 trên thì trong vòng 5 năm có thể khắc phục được tình trạng ô nhiễm. Hiện nay Hà Nội đang tổ chức thực hiện theo hình thức này và Bộ đang phối hợp chặt chẽ để sớm tổng kết, nhân rộng mô hình. 

(Nguồn: Công văn số 1842/BTNMT-PC ngày 19/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Lên phía trên
Yêu cầu đối với các hoạt động trong hành lang bảo vệ nguồn nước?
Câu hỏi:
Đề nghị cho biết, yêu cầu đối với các hoạt động trong hành lang bảo vệ nguồn nước?
Trả lời:
Trả lời:

Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 6-5-2015 của Chính phủ quy định về các yêu cầu đối với các hoạt động trong hành lang bảo vệ nguồn nước: Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sinh sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: Không được gây sạt, lở bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng, uy hiếp đến sự ổn định, an toàn của sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa. Không làm ảnh hưởng đến các chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường sinh thái trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước; Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường về ảnh hưởng đến chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước khi thực hiện các hoạt động trong hành lang bảo vệ nguồn nước sau đây: Xây dựng kho bãi, bến, cảng, cầu, đường giao thông, các công trình ngầm và công trình kết cấu hạ tầng khác.


Lên phía trên
Có thể tận dụng một phần nước thải sau xử lý để tưới cây?
Câu hỏi:
Nếu Công ty xử lý nước thải đạt theo bản cam kết môi trường thì có thể tận dụng một phần nước thải sau xử lý để tưới cây không? Có cần xin phép gì không?
Trả lời:

Trả lời:

1. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Luật Tài nguyên nước: ‘‘Nghiêm cấm các hành thức xả thải vào lòng đất thông qua giếng khoan, giếng đào và các hình thức đưa nước thải vào lòng đất’’. Vì vậy, việc xả nước thải chưa qua xử lý hoặc sau khi đã được xử lý đạt quy chuẩn, kể cả loại A, vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái quy định của pháp luật về tài nguyên nước.

2. Đối với việc tái sử dụng nước thải cho mục đích tưới cây, hiện nay, chỉ xem xét cho phép tái sử dụng nước thải sinh hoạt đã được xử lý bảo đảm đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt cột A (QCVN 14: 2008/BTNMT) và bảo đảm đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước phù hợp cho mục đích tưới cột B1 (QCVN 08-MT:2015/BTNMT) để tưới cây trong phạm vi của chính cơ sở đó.

2.Để được xem xét, cơ sở xả nước thải có nhu cầu tái sử dụng nước để tưới cây xây dựng phương án xử lý nước thải đạt yêu cầu nêu trên. Đồng thời, xây dựng phương án tái sử dụng nước để tưới cây, trong đó nêu rõ yêu cầu sử dụng nước để tưới cây cụ thể trong từng thời gian, cân bằng lượng nước tưới với lượng nước thải phát sinh hằng ngày, có phương án tiêu thoát hoặc vận chuyển lượng nước thải còn dư để xả vào các nguồn nước mặt, nước biển, không được xả vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào. Phương án tái sử dụng nước phải được thẩm định và kiểm soát chặt chẽ, tránh việc lợi dụng tái sử dụng nước để đưa nước thải vào các tầng chứa nước dưới đất.
Lên phía trên
Điều kiện để được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Theo tôi được biết tại Khoản 2, Điều 37, Luật Tài nguyên nước năm 2012 có quy định: Dự án xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có hạng mục đầu tư xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải.Đối với trường hợp Công ty tôi đã xây dựng và đi vào hoạt động ổn định từ năm 2011 thì có thuộc đối tượng phải thực hiện theo quy định trên không? Trường hợp chúng tôi không có hệ thống thu gom, tách riêng nước mưa, nước thải thì có đủ điều kiện để được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không?
Chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Trả lời: 

Khoản 2, Điều 37 của Luật tài nguyên nước năm 2012 quy định “Dự án xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có hạng mục đầu tư xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải; hệ thống xử lý nước thải; hệ thống tiêu, thoát, dẫn nước thải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật” có nghĩa là khi xây dựng mới hoặc khi cải tạo hoặc khi nâng cấp thì đơn vị phải thực hiện xây dựng hệ thống thu gom tách riêng giữa nước mưa và nước thải.

Mặc dù của công ty đã xây dựng và đi vào hoạt động ổn định từ năm 2011 nhưng chưa được cấp có thẩm quyền xem xét cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, thuộc trường hợp đang có hoạt động xả nước thải vào nguồn nước nhưng chưa có giấy phép (vi phạm theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước), nên vẫn phải thực hiện theo quy định nêu trên.

Giả vụ khi Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, thẩm định hồ sơ xin cấp phép xả thải của công ty vào tháng 11/2016, nếu trong báo cáo xả thải công ty không có xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải (tức là không thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 37 của Luật tài nguyên nước) thì không được xem xét cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Vì vậy, để được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bắt buộc công ty phải đầu tư nâng cấp xây dựng hệ thống thu gom, tách riêng nước mưa với nước thải.

Trên đây là nội dung trả lời của Sở Tài nguyên và Môi trường Cà Mau để Quý công ty nghiên cứu, áp dụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, góp phần vào công tác bảo vệ môi trường của tỉnh ngày một tốt hơn.
Trân trọng!
Lên phía trên
Thủ tục điều chỉnh, bổ sung, cấp lại giấy phép về tài nguyên nước
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi là một đơn vị thuộc Nhà nước. Năm 2009, Công ty được Bộ TN&MT cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, thời hạn 10 năm. Năm 2016, Công ty đã cơ cấu lại thành Công ty cổ phần.
Căn cứ theo điểm b, khoản 1, Điều 27 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước thì Công ty chúng tôi thuộc trường hợp được cấp lại giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt.
Tuy nhiên đối chiếu với khoản 1, Điều 77 của Luật Tài nguyên nước chỉ quy định các trường hợp được chuyển tiếp như sau: “Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép theo quy định của Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 thì được tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn ghi trong giấy phép”. Như vậy, theo chúng tôi hiểu thì không quy định cho các trường hợp phải điều chỉnh, bổ sung, cấp lại giấy phép về tài nguyên nước.
Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: Đối với những trường hợp như Công ty chúng tôi (được cấp giấy phép theo Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH13), do cơ cấu lại tổ chức thì có thuộc trường hợp phải làm thủ tục điều chỉnh, bổ sung, cấp lại giấy phép về tài nguyên nước hay không? Nếu thuộc hoặc không thuộc thì căn cứ vào quy định nào? Công ty chúng tôi có được tiếp tục thực hiện theo giấy phép cũ đến khi hết hạn hay không?
Trả lời:
Trả lời:
Trường hợp quý vị nêu thuộc trường hợp cấp lại Giấy phép.
Lên phía trên
Quy định về cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của Luật TNN
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng 630m3, nhưng khi đi nộp phí tài nguyên nước do tính toán dựa vào lượng nước khai thác mức phí công ty phải nộp chỉ440m3. Công ty đã nộp mức phí trên được 1 quý. Vậy cho tôi hỏi liệu công ty có vi phạm luật tài nguyên nước không và phải sửa thế nào?
Trả lời:

Với câu hỏi đã nêu thì chưa rõ Công ty đang xả nước thải vào nguồn nước là Công ty nào, địa chỉ cụ thể ở đâu, sản xuất, kinh doanh ngành nghề gì, được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước ( số, ngày, tháng, năm nào ?); và việc nộp phí tài nguyên nước là phí gì (chúng tôi hiểu là phí bảo vệ môi trường đối với nước thải). Do vậy, Chúng tôi chỉ có thể trả lời được một số nội dung như sau:
 

Căn cứ Căn cứ Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, ngày 21/6/2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước (trước kia là  Luật Tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước).

Việc cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được thực hiện theo Báo cáo xả nước thải vào nguồn do đơn vị tư vấn lập căn cứ theo Báo cáo ĐTM hoặc Bản cam kết bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong đó có quy định lưu lượng xả tối đa là mức xả cao nhất mà Công ty được phép xả ra theo thiết kế. Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện căn cứ vào lưu lượng nước xả thực tế theo báo cáo quan trắc đã quy định. Lượng nước thải xả ra thực tế của công ty là 440 m3 thấp hơn giấy phép được cấp là 630 m3 (nằm trong giới hạn cho phép). Do đó Công ty không vi phạm quy định của Luật tài nguyên nước nên không cần thiết phải chỉnh sửa./.

Lên phía trên
QUY ĐỊNH VIỆC XÁC ĐỊNH VÀ CÔNG BỐ VÙNG BẢO HỘ VỆ SINH KHU VỰC LẤY NƯỚC SINH HOẠT
Câu hỏi:
Gửi anh/chị.
Tôi đang làm việc tại công ty Cổ phần Dịch vụ cáp treo Bà Nà. Hiện công ty có khai thác nước mặt phục vụ cho quá trình sinh hoạt, kinh doanh của công ty (đã có giấy phép khai thác vào năm ngoái). Nay có quy định xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực khai thác nước sinh hoạt. Bên Sở TN&MT địa phương yêu cầu công ty khai báo vùng bảo hộ này. Vậy xin hỏi thủ tục cần làm như thế nào?
Xin cảm ơn anh/chị.
Trả lời:
1. Theo Điều 4, Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT ngày 9/9/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, trong đó quy định các trường hợp phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt như sau:
Công trình khai thác nước để cấp nước cho sinh hoạt hoặc cấp nước cho nhiều mục đích, trong đó có cấp nước cho sinh hoạt của các cơ sở sản xuất, kinh doah, dịch vụ phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt bao gồm:
a, Công trình khai thác nước mặt với quy mô trên 100 m3/ngày đêm.
b, Công trình khai thác nước dưới đất với quy mô trên 10 m3/ngày đêm.

2. Theo Điều 5, Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước mặt:

a, Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt trên sông, suối, kênh, rạch để cấp cho sinh hoạt bao gồm phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch mà công trình đó khai thác và vùng thượng lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình được quy định như sau:
Một là, trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 100m3/ngày đêm đến dưới 50.000m3/ngày đêm, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.000 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
Hai là, trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 50.000m3/ngày đêm trở lên, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt không nhỏ hơn:
- 1.500 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi;
- 1.000 m về phái thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
b, Phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước mặt từ hồ chứa để cấp nước sinh hoạt tính từ vị trí khai thác nước của công trình và quy định như sau:
-  Không nhỏ hơn 1.500m đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước hồ chứa (*);
- Toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa khác với quy định (*) nêu trên.
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên của Thông tư 24/2016/TT-BTNMT, quý công ty nghiên cứu, đề xuất phạm vi cụ thể vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình.
Lên phía trên
Cơ sở chúng tôi có phải làm giấy phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Hộ kinh doanh chúng tôi sơ chế vải đóng gói; cơ sở tôi chỉ hoạt động từ tháng 6 đến tháng 8. Lượng nước thải sơ chế là 6 m3/ngày đêm nếu xả thải từ tháng 6 đến tháng 8. Hiện nay, cơ sở tôi có một ao chứa nước có chống thấm, chống tràn có khả năng chứ khoản 500 m3 nước thải. Nếu cơ sở chúng tôi chứa nước thải vào ao chứa 500 m3 vừa để lắng và tự xử lý (có tận dụng để tưới cây trong vườn với diện tích là 1 ha). Nước thải xả ra ngoài nếu không tưới cây được kéo dài trong cả năm với lưu lượng 1,5 m3/ngày đêm. Đối với giải pháp cụ thể này. Cơ sở chúng tôi có phải làm giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không theo quy định.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Trường hợp quý vị nêu, không phải là nước thải sinh hoạt nên trong mọi trường hợp không được tái sử dụng để tưới cây.

Nếu Cơ sở của Quý vị không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 27 mà lưu lượng nước thải không có bất kỳ ngày nào vượt quá 5 m3/ngày thì không phải có giấy phép.
Lên phía trên
Quy định liên quan đến xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Theo Quy định hành vi đưa nước thải vào lòng đất là hành vi bị nghiêm cấm. Vậy xin Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến đối với trường hợp sau:
Công ty chúng tôi xả nước thải ra cống thoát chung của thành phố. Cuối phần cống thoát chung là mương đất trước khi dẫn vào sông. Vậy việc chống thấm chống tràn mương đất là trách nhiệm của ai; quy định tại văn bản nào?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
Trường hợp bạn nêu là mương của hệ thống tiêu thoát nước, trong đó có nước thải, thuộc phạm vi trách nhiệm của địa phương và không thuộc trường hợp quy định Khoản 5 diều 26 của Luật TNN.
Lên phía trên
Khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và để chăn nuôi gà tại phần đất của gia đình (khoảng 10 đến 15m3) thì có phải xin phép không?
Câu hỏi:
Hiện tôi muốn khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và để chăn nuôi gà tại phần đất của gia đình (khoảng 10 đến 15m3) thì có phải xin phép không? Xin tại cơ quan nào? Thủ tục như thế nào?
Trả lời:

Sở Tài nguyên và Môi trường Cà Mau xin trả lời như sau:
 
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 43 Luật Tài nguyên nước thì tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và mục đích khác theo quy định của pháp luật. Tại Điểm a, Khoản 2, Điều 16 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, thì việc khai thác nước dưới đất phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 4, Điều 44, Luật Tài nguyên nước thì không phải đăng ký, không phải xin phép.
 
Trường hợp của ông khai thác nước dưới đất có lưu lượng khoảng 10 đến 15m3/ngày đêm, nên phải xin cấp phép theo quy định tại Khoản 3, Điều 44 Luật Tài nguyên nước. Tuy nhiên, tại Điểm đ, Khoản 4, Điều 52 của Luật Tài nguyên nước có quy định: “Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã có hệ thống cấp nước tập trung và dịch vụ cấp nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng” thì hạn chế khai thác nước dưới đất. Đồng thời, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 1420/UBND-NĐ ngày 01/04/2015 cvề việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau; theo đó, yêu cầu Sở Tài nguyên và môi trường không xem xét, giải quyết hồ sơ cấp phép khai thác, gia hạn, điều chỉnh tăng lưu lượng khai thác hoặc đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các khu vực đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã có hệ thống cấp nước tập trung và dịch vụ cấp nước đảm bảo đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng.
 
Do ông không nêu rõ địa điểm chuẩn bị khoan giếng khai thác ở đâu (trong nội ô hay thuộc các xã của thành phố Cà Mau) cho nên Sở Tài nguyên và Môi trường Cà Mau xin trả lời chung như sau: Nếu ông định đầu tư giếng khoan ở khu vực đã có hệ thống cấp nước tập trung mà bảo đảm đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng thì không được khoan giếng khai thác nước dưới đất. Ngoài khu vực này, ông phải lập thủ xin cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất như sau: 
 
Trước hết, phải làm thủ tục xin cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất với lưu lượng dưới 3.000 m3/ngày đêm; khi được Chủ tịch UBND tỉnh cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất thì mới được tiến hành khoan thăm dò kết hợp lắp đặt giếng khoan khai thác (không được khoan giếng trước rồi mới xin phép).  Sau cùng là lập thủ tục xin khai thác, sử dụng nước dưới đất. Các loại thủ tục nêu trên, đều do Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, thẩm định và trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định theo thẩm quyền. 
 
Ông có thể truy cập vào Trang Thông tin điện tử của Sở Tài nguyên và Môi trường, mục "Thủ tục hành chính" và chọn "lĩnh vực Tài nguyên nước" để tìm thủ tục hành chính muốn thực hiện. 
Lên phía trên
Thủ tục điều chỉnh lưu lượng xả thải trong giấy phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi hiện đã được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng 5.000 m3/ngày.đêm (Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp). Hiện nay do nhu cầu phát triển, Công ty chúng tôi đã nâng công suất của dự án và lượng nước thải dự kiến tăng thêm là 2.000 m3/ngày.đêm. Vậy tổng lượng nước thải phải xả vào nguồn tiếp nhận trong tương lai là 7.000 m3/ngày.đêm. Đối với trường hợp cụ thể này Kính đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn giúp Công ty chúng tôi:
• Chúng tôi phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép xả nước thải vào nguồn nước nộp về UBND thành phố Hồ Chí Minh hay về Bộ Tài nguyên và Môi trường?
• Chúng tôi phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép xả nước thải vào nguồn nước cho lưu lượng 2.000 m3/ngày/đêm hay 7.000 m3/ngày/đêm?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Trường hợp của Công ty phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng 7000m3/ngày đêm và nộp về Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP.
Lên phía trên
Về việc xử lý vi phạm hành chính về thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất
Câu hỏi:
Hiện nay tôi có công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất mà đã thi công các giếng khoan, giếng đào từ trước và đang hoạt động khai thác nước dưới đất, nhưng đến thời điểm hiện nay tôi mới tiến hành lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước dưới đất. Trong hồ sơ đề nghị cấp phép, tôi lập báo cáo hiện trạng khai thác đối với trường hợp công trình khai thác nước dưới đất đang hoạt động.
Kính đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn đối với trường hợp của tôi có phải xử lý vi phạm hành chính về thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất trước khi xem xét cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất hay không? Công trình của tôi có phải lập lại hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất không?
Trả lời:

Trả lời:

Về nguyên tắc, trường hợp bạn nêu phải xử lý vi phạm hành chính về thăm dò, khai thác sử dụng nước dưới đất.

Công trình của bạn không cần thiết phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thăm dò, mà lập luôn hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác nước dưới đất đối với trường hợp công trình đang hoạt động
 
Lên phía trên
Quản lý hoạt động xả nước thải vào nguồn nước đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động xả nước thải vào nguồn nước dưới 5 m3/ngày/đêm
Câu hỏi:
Hiện nay việc các tổ chức, cá nhân có hoạt động xả nước thải vào nguồn nước dưới 5 m3/ngày/đêm hay các hộ gia đình tự thấm vào lòng đất thì việc quản lý và xử lý nước thế nào nếu việc đưa nước thải sau xử lý vào lòng đất là hành vi bị nghiêm cấm?
Trả lời:
Trả lời:

Việc đưa nước thải, kể cả nước thải đã qua xử lý là nguy cơ lớn gây ô nhiễm các nguồn nước. Chính vì vây, đây là một trong những hành vi mà Luật TNN nghiêm cấm.

Việc xử lý nước thải sinh hoạt thuộc trách nhiệm chung của nhà nước. Để triển khai thực hiên các quy định này của Luật, các địa phương cần có kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý, tiêu dẫn nước thải sinh hoạt cho cả khu vực đô thị, nông thôn.
Lên phía trên
Điều kiện để cấp giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng những điều kiện nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng những điều kiện sau đây:
1. Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định 201/2013/NĐ-CP.
2. Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực.
Phương án, biện pháp xử lý nước thải thể hiện trong đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước phải bảo đảm nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phương án thiết kế công trình hoặc công trình khai thác tài nguyên nước phải phù hợp với quy mô, đối tượng khai thác và đáp ứng yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước.
3. Đối với trường hợp xả nước thải vào nguồn nước, ngoài điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân khác đủ năng lực thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp đã có công trình xả nước thải;
b) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp chưa có công trình xả nước thải;
c) Đối với trường hợp xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 10.000 m3/ngày đêm trở lên quy định, còn phải có phương án, phương tiện, thiết bị cần thiết để ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và thực hiện việc giám sát hoạt động xả nước thải theo quy định.
4. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước dưới đất với quy mô từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên, ngoài điều kiện quy định tại các Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, còn phải có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước theo quy định; trường hợp chưa có công trình thì phải có phương án bố trí thiết bị, nhân lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước.
5. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước mặt có xây dựng hồ, đập trên sông, suối phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 53 của Luật tài nguyên nước, điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này và các điều kiện sau đây:
a) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước; phương án quan trắc khí tượng, thủy văn, tổ chức dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp chưa có công trình;
b) Có quy trình vận hành hồ chứa; có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để thực hiện việc vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, quan trắc khí tượng, thủy văn và dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp đã có công trình.
Lên phía trên
Tôi xin phép hỏi văn bản nào quy định đơn giá để lập hồ sơ báo cáo xin cấp phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Tôi xin phép hỏi văn bản nào quy định đơn giá để lập hồ sơ báo cáo xin cấp phép tài nguyên nước?
Trả lời:

Sở TNMT Yên Bái trả lời:
 
Về nội dung này, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái trả lời như sau:
Hồ sơ, thủ tục hành chính đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước tuân theo quy định tại Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước và Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước. 
Về đơn giá để lập hồ sơ báo cáo xin cấp phép tài nguyên nước, cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định riêng cụ thể đơn giá của việc lập hồ sơ, báo cáo xin cấp phép tài nguyên nước.
Tuy nhiên, trên thực tế khi lập hồ sơ báo cáo xin cấp phép tài nguyên nước thì việc xác định các chi phí cho hoạt động này các tổ chức, cá nhân thường căn cứ trên khối lượng công việc cụ thể, dựa trên các quy định pháp luật về quản lý kinh phí, về định mức điều tra đánh giá tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường và điều kiện triển khai thực tế để vận dụng. Đơn giá được tính toán bằng phương pháp trực tiếp theo các Thông tư quy định về định mức kinh tế kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước và các chế độ chính sách của Nhà nước hiện hành, có tính cho các điều kiện áp dụng cụ thể tại địa phương.
Đối với việc sử dụng kinh phí trong các cơ quan, đơn vị nhà nước để lập hồ sơ, báo cáo tài nguyên nước thì trong quá trình lập dự toán có thể căn cứ trên khối lượng triển khai thực tế và định mức quy định trong một số văn bản sau để tính đơn giá: 
- Thông tư liên tịch số 118/2008/TT-BTC-BTNMT ngày 05/12/2008 của Liên Bộ Tài chính- Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động quản lý tài nguyên nước;
- Thông tư số 20/2009/TT-BTNMT ngày 05/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Định mức kinh tế kỹ thuật điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước;
- Thông tư số 21/2009/TT-BTNMT ngày 05/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Định mức kinh tế kỹ thuật điều tra đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước
- Thông tư số 26/2009/TT-BTNMT ngày 30/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Định mức kinh tế kỹ thuật điều tra đánh giá tài nguyên nước;
- Thông tư 10/2010/TT-BTNMT ngày 01/7/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Định mức kinh tế kỹ thuật khảo sát, đo đạc tài nguyên nước;
- Thông tư số 18/2014/TT-BTNMT ngày 22/4/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường không khí xung quanh, nước mặt lục địa, đất, nước dưới đất, nước mưa axít, nước biển, khí thải công nghiệp và phóng xạ
Ngoài ra, ngày 20/12/2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Quyết định số 2602/QĐ-BTNMT về việc ban hành bộ đơn giá lĩnh vực tài nguyên nước năm 2013 theo mức tiền lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng, áp dụng để thanh toán, quyết toán kinh phí cho các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với khối lượng sản phẩm hoàn thành từ ngày 01/7/2013 đến ngày 31/12/2013 trong đó có tính sẵn đơn giá cho các hoạt động dịch vụ về tài nguyên nước do các đơn vị sự nghiệp thực hiện. Nếu ông Nguyễn Hoàng Nam quan tâm, có thể tìm hiểu thêm về bộ đơn giá này để tham khảo tại trang thông tin điện tử của Cục Quản lý Tài nguyên nước theo địa chỉ: 
http://dwrm.gov.vn/index.php?language=vi&nv=laws&op=Don-gia-Dinh-muc/Quyet-dinh-so-2602-QD-BTNMT-ve-viec-Ban-hanh-Bo-Don-gia-linh-vuc-tai-nguyen-nuoc-nam-2013-theo-muc-tien-luong-co-so-1-150-000-dong-thang
Lên phía trên
Việc áp dụng Hệ số lưu lượng, hệ số nguồn tiếp nhận nước thải theo Quy chuẩn Việt Nam?
Câu hỏi:
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có một số cơ sở chế biến cao su, nước thải sau xử lý cho chảy tràn ra vườn cao su của họ. Như vậy khi áp dụng Hệ số lưu lượng, hệ số nguồn tiếp nhận nước thải theo Quy chuẩn Việt Nam thì áp dụng như thế nào?
Trả lời:

Trả lời:
 
Theo quy định tại QCVN 01-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sơ chế cao su thiên nhiên được ban hành kèm theo Thông tư số 11/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước thải của cơ sở sơ chế cao su thiên nhiên được phép tái sử dụng để tưới cây khi đáp ứng các yêu cầu sau:
 
- Giá trị tối đa cho phép các thông số pH, BOD5 và COD đạt yêu cầu quy định tại cột B Bảng 1 (Kq=1; Kf =1);
 
- Nước thải sau xử lý phải được thu gom lại trong hồ chứa dành riêng cho mục đích tưới cây. Hồ chứa phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường;
 
- Phương án, kế hoạch tưới phải có văn bản thông báo gửi Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương để phối hợp giám sát; 
 
- Chỉ được phép tưới cây trong phạm vi thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp phát sinh nước thải.
 
Việc cho phép sử dụng nước thải để tưới cây nhằm mục tiêu tái sử dụng tài nguyên nước và tận dụng một số chất dinh dưỡng có lợi cho cây trồng trong nước thải. Khi tái sử dụng nước thải để tưới cây, hệ số Kq, Kf vẫn được áp dụng theo quy định tại QCVN 01-MT:2015/BTNMT , cụ thể: 
 
- Trường hợp cơ sở sơ chế cao su thiên nhiên tái sử dụng hoàn toàn nước thải cho tưới cây thì áp dụng hệ số Kq =1 và Kf =1.
 
- Khi cơ sở sơ chế cao su thiên nhiên chỉ trích một phần nước thải để tưới cây còn một phần vẫn thải ra nguồn tiếp nhận nước thải thì áp dụng hệ số Kq ứng với lưu lượng dòng chảy của sông, suối, khe, rạch; kênh, mương; dung tích của hồ, ao, đầm; mục đích sử dụng của vùng nước biển ven bờ; áp dụng hệ số Kf ứng với tổng lưu lượng nước thải sơ chế cao su thiên nhiên khi xả ra nguồn tiếp nhận nước thả và lưu lượng nguồn thải được tính theo lưu lượng thải lớn nhất nêu trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Đề án bảo vệ môi trường, Kế hoạch bảo vệ môi trường, Cam kết bảo vệ môi trường, hoặc Giấy xác nhận việc hoàn thành các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. 
 
Lên phía trên
Thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Tôi là một Doanh nghiệp sản xuất ở 2 tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội ngành nghề sản xuất Công nghiệp (xả thải theo qui định QCVN 40-BTNMT) quy mô xả thải 50 m3/ ngày đêm. Hiện nay đi làm thủ tục xả thải vào nguồn nước theo quy định tại Nghị định 201/NĐ-CP thì được Hai địa phương hướng dẫn khác nhau
1. Trường hợp thứ nhất: Đã đủ hồ sơ, trong hồ sơ với kết quả thử nghiệm do phòng phân tích và thử nghiệm vilas 194 (do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp phép hoạt động) trường hợp này đã nhận hồ sơ và hợp lệ

2. Trường hợp thứ hai: Đã đủ hồ sơ, trong hồ sơ với kết quả thử nghiệm do phòng phân tích và thử nghiệm vilas 194 (do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp) nhưng lại được hướng dẫn là kết quả thử nghiệm phân tích phải là đơn vị có Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc của Bộ TNMT cấp theo Nghị định số 127/2014/NĐ-CP vê quy định về điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường.
Như vậy cả hai bộ hồ sơ của doanh nghiệp chúng tôi giải quyết theo hướng nào?
Trả lời:

Trả lời:

Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép xả nước thải phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các kết quả phân tích chất lượng nước trong Hồ sơ đề nghị cấp phép. Trong quá trình thẩm định hồ sơ, cơ quan tổ chức thẩm định hồ sơ sẽ xem xét các kết quả phân tích chất lượng nước này. Trong đó, các tiêu chuẩn về phòng thí nghiệm là một trong những căn cứ để xác định tính chính xác của kết quả phân tích.
 
Lên phía trên
Xin cho hỏi việc khai thác và kinh doanh nguồn nước giếng khoan tại nơi đã có hệ thống cấp nước có vi phạm pháp luật về tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Tôi hiện đang cư ngụ tại căn hộ 1008 Lô A, Chung cư Vĩnh Tường ( C/C Tân Tạo ), Phường Tân Tạo A, Quận Bình Tân, TP.HCM. Hiện nay tại đây đang có hệ thống cấp nước sinh hoạt của Cty CP Đầu Tư Xây Dựng Bình Chánh và Công ty CP Cấp Nước Chợ Lớn đã khảo sát lắp đặt đồng hồ tổng . Tuy nhiên hiện nay tại chung cư này đơn vị quản lý vận hành tòa nhà chung cư là Công ty CP Môi Trường Sống Sạch đang khai thác nguồn nước giếng công nghiệp được khoan ngay trong khuôn viên chung cư này lọc và bán lại dân cư tại đây với giá 7000 đồng/m3 nhưng chất lượng nước rất tệ.Xin cho hỏi việc khai thác và kinh doanh nguồn nước giếng khoan nơi đã có hệ thống cấp nước như tại khu chung cư này có vi phạm pháp luật về môi trường không, hiện tại khu chung cư này có khoảng 240 căn hộ ( đã ở khoảng 200 hộ )và một số shop kinh doanh thì số lượng nước ngầm khai khác, kinh doanh tại đây là rất lớn . Mong sớm nhận được trả lời của quý cơ quan .
Trả lời:

Sở TNMT TP. Hồ Chí Minh trả lời:
 
Đơn vị quản lý chung cư (Công ty CP Môi Trường Sống Sạch) tự khai thác nguồn nước dưới đất để xử lý và bán lại cho người dân khi chưa có giấy phép khai thác nước dưới đất là sai luật (theo Khoản 3 Điều 44 Luật Tài nguyên nước 2012).
 
Về chủ trương cấp phép khai thác nước dưới đất của Sở Tài nguyên và Môi trường: Theo chỉ đạo của UBND Thành phố Sở Tài nguyên và Môi trường không cấp phép khai thác nước dưới đất phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt nếu khu vực đã có mạng cấp nước sạch của Thành phố (đảm bảo lưu lượng và chất lượng)và giảm dần lưu lượng cấp phép đối với các đơn vị đang khai thác nước dưới đất.
 
Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ghi nhận vụ việc và sẽ có kê hoạch tiến hành kiểm tra, xem xét việc khai thác và kinh doanh nguồn nước giếng khoan nơi đã có hệ thống cấp nước như tại khu chung cư này có vi phạm pháp luật về môi trường hay không? Và sẽ xử lý theo quy định của Pháp luật.
Trân trọng.
 
Lên phía trên
Hành vi khai thác cát trái phép trên sông Đồng Nai vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước, vi phạm Luật Khoáng sản?
Câu hỏi:
Hành vi khai thác cát trái phép trên sông Đồng Nai vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước, vi phạm Luật Khoáng sản?
Trả lời:

Luật sư Nguyễn Văn Kiệm

Văn phòng Luật sư Phạm Sơn, TP. Hà Nội trả lời: 

- Vi phạm chính sách của nhà nước về khoáng sản theo nguyên tắc nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả (Điều 3 Luật Khoáng sản).

- Vi phạm các điều cấm của Luật Tài nguyên nước, cụ thể: Cấm khai thác trái phép cát, sỏi trên sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; khai thác khoáng sản, khoan, đào, xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công trình và các hoạt động khác trong hành lang bảo vệ nguồn nước gây sạt, lở bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng, uy hiếp đến sự ổn định, an toàn của sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa (Khoản 5 Điều 9 Luật Tài nguyên nước).

Một vụ việc tương tự cũng đã từng xảy ra một số năm trước tại Hà Nội (địa bàn huyện Phúc Thọ, đoạn sông Hồng nơi giáp ranh với tỉnh Vĩnh Phúc) và các cấp chính quyền địa phương cũng bất lực, để cho nạn cát tặc hoành hành trong một thời gian dài, để nhiều tiếng xấu/tin đồn trong dư luận quần chúng về việc có dấu hiệu bao che/bảo kê. Chỉ đến khi Cơ quan điều tra – Bộ Công an vào cuộc thì nạn cát tặc mới được dẹp bỏ.

Điều này cho thấy, hành vi nói trên là nghiêm trọng, gây thiệt hại đến tài nguyên khoáng sản của nhà nước, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường, sinh thái, gây mất an ninh trật tự. Những hành vi trên có đẩy đủ dấu hiệu được quy định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

Điều 172. Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên  quy định:

1. Người nào vi phạm các quy định của nhà nước về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên trong đất liền, hải đảo, nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và vùng trời của Việt Nam mà không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng.

Để sớm ngăn chặn và chấm dứt hành vi trên, theo tôi, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng vào cuộc để điều tra, xác minh và buộc các đối tượng vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Lên phía trên
Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về điều kiện, năng lực thực hiện tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước
Câu hỏi:
Đề nghị quý cơ quan cho biết mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về điều kiện, năng lực thực hiện tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước?
Trả lời:
Trả lời:

Điều 4 Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản quy địnhvề Vi phạm các quy định về điều tra cơ bản, quy hoạch tài nguyên nước như sau:
 
“1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về điều kiện, năng lực thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước.
 
2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về điều kiện, năng lực thực hiện tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước”.

Như vậy, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản thì hành vi vi phạm quy định về điều kiện, năng lực thực hiện tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nướcsẽ bị phạt tiền từ từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Lên phía trên
Nhà nước ưu tiên khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt bằng các biện pháp nào?
Câu hỏi:
Đề nghị cho biết nhà nước ưu tiên khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt bằng các biện pháp nào?
Trả lời:
Trả lời: 

Điều 45 Luật tài nguyên nước năm 2012 quy định việc Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt như sau:
 
1. Nhà nước ưu tiên khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt bằng các biện pháp sau đây:
 
a) Đầu tư, hỗ trợ các dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch, ưu tiên đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, vùng có nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
 
b) Có chính sách ưu đãi, khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư vào việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt.
 
2. Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm nước sinh hoạt trong trường hợp hạn hán, thiếu nước hoặc sự cố ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng gây ra thiếu nước.
 
3. Tổ chức, cá nhân được cấp nước sinh hoạt có trách nhiệm tham gia đóng góp công sức, tài chính cho việc bảo vệ nguồn nước, khai thác, xử lý nước phục vụ cho sinh hoạt theo quy định của pháp luật.

Như vậy, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật tài nguyên nước năm 2012 thì Nhà nước ưu tiên khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt bằng các biện pháp sau đây:
 
- Đầu tư, hỗ trợ các dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch, ưu tiên đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, vùng có nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
 
- Có chính sách ưu đãi, khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư vào việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt.
 

Lên phía trên
Xử phạt vi phạm giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Câu hỏi:
Đề nghị quý cơ quan cho biết hình thức xử phạt vi phạm giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Trả lời:
Trả lời:

Đối với việc vi phạm quy định của Giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, tại Điều 7  Nghị định 142/2013/NĐ-CP  gồm các mức phạt như sau:
 
1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
 
a) Không cung cấp đầy đủ và trung thực các dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước tại khu vực thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu;
 
b) Không thực hiện chế độ báo cáo về kết quả thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
 
2. Đối với hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước vượt quá lưu lượng quy định trong giấy phép thì phần lưu lượng vượt quy định áp dụng xử phạt theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này.
 
3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
 
a) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đúng mục đích đã quy định trong giấy phép;
 
b) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không theo chế độ đã quy định trong giấy phép;
 
c) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đúng vị trí quy định trong giấy phép;
 
d) Khai thác, sử dụng nước mặt không đúng nguồn nước đã quy định trong giấy phép;
 
đ) Khai thác, sử dụng nước dưới đất không đúng tầng chứa nước đã quy định trong giấy phép;
 
e) Thăm dò nước dưới đất không đúng nội dung đã quy định trong giấy phép.
 
4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc tước quyền sử dụng Giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thời hạn từ 01 (một) tháng đến 03 (ba) tháng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
 
a) Không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa, khắc phục sự cố trong quá trình thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
 
b) Khai thác, sử dụng nước mặt không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu đã quy định trong giấy phép.
 
Ngoài ra chủ thể vi  phạm có thể phải thực hiện thêm biện pháp khắc phục hậu quả, đó là buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm tại mục 3, 4 ở trên mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước.

Lên phía trên
Xử phạt vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước
Câu hỏi:
Đề nghị quý cơ quan hãy cho biết về mức xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước?
Trả lời:
Trả lời:
 
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 2 Luật tài nguyên nước năm 2012).
 
Điều 5 Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản quy định về Vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước như sau:
 
“1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đúng quy định về việc quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
 
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo quy định”.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì đối với hành vi thực hiện không đúng quy định về việc quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; đối với hành vi không thực hiện quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo quy địnhsẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Lên phía trên
Việc kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng (kiểm tra về việc xả thải ở các công ty, các doanh nghiệp mới thành lập
Câu hỏi:
Đề nghị quan tâm, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất để ngành tài nguyên và môi trường có đủ nguồn lực, đủ điều kiện thực hiện việc kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng (kiểm tra về việc xả thải ở các công ty, các doanh nghiệp mới thành lập), đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và có biện pháp chế tài các vi phạm về môi trường tại địa phương.
Trả lời:
Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ môi trường đã được quy định cụ thể tại ĐIều 111 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và mới đây là Điều 147 của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.
Về việc ưu tiên kinh phí cho địa phương để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, đã có nhiều văn bản chỉ đạo, quy định như:
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nội dung “tăng chi để đảm bảo đến năm 2006 đạt mức chi không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế”.
- Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2011. Trên cơ sở tổng dự toán chi sự nghiệp môi trường của ngân sách nhà nước hàng năm, trong đó ngân sách Trung ương 15% trong tổng chi 1%, ngân sách địa phương 85% trong tổng chi 1%.
Ngoài ra, đã có nhiều văn bản về các chính sách để huy động, đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường như:
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ quy định về ưu đãi, hỗ trợ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
-  Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, lĩnh vực bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ sử dụng nguồn vốn ODA.\
-  Nghị định số 78/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định lĩnh vực, điều kiện, trình tự, thủ tục và ưu đãi đối với các Dự án đầu tư phát triển công trình kết cấu hạ tầng thực hiện theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Hợp đồng – Xây dựng – Chuyển giao (BT) xác định nhà máy cung cấp nước, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, chất thải thuộc lĩnh vực Chính phủ khuyến khích thực hiện.
-  Nghị định số 59/2009/NĐ-CP và Thông tư số 13/2007/TT-BXD ban hành chính sách khuyến khích mọi tổ chức, các nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư, xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn, các công trình phụ trợ thông qua các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.
-  Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 38/2011/QĐ-TTg ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách Nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu nguy cơ suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích.
-  Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường (thay thế Thông tư liên tịch số 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29/12/2006).
-  Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
-  Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó đã nêu cụ thể ưu tiên tăng phân bổ ngân sách từ nguồn vốn đầu tư phát triển cho bảo vệ môi trường; tăng dần tỷ lệ phân bổ cho hoạt động sự nghiệp môi trường theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; nghiên cứu bổ sung mục chỉ riêng về đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ môi trường thuộc khu vực công ích trong Luật ngân sách nhà nước, trình Chính phủ xem xét.
-  Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 2/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015, theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường được Thủ tướng Chính phủ giao là cơ quan đầu mối của Chương trình mục tiêu quốc gia, chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình này.
Đây là các văn bản quan trọng làm cơ sở cho việc đề xuất các nhiệm vụ chi từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; phân công cụ thể trách nhiệm của cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan tài chính trong quá trình lập và phân bổ dự toán; quy định các định mức chi cho các nội dung thực hiện các nhiệm vụ sử dụng nguồn kinh phí này mà ở các văn bản tài chính khác không quy định. Tại các địa phương, giải pháp đa dạng hóa nguồn vốn cho bảo vệ môi trường đã được đề cập đến trong các chương trình, đề án, kế hoạch bảo vệ môi trường của các tỉnh, thành phố.
Trong thời gian tới, trên cơ sở Luật bảo vệ môi trường 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan sẽ đề xuất, xây dựng, ban hành các chính sách kịp thời để thực hiện công tác bảo vệ môi trường ngày một hiệu quả hơn.
Lên phía trên
Quy định an toàn nước giếng ở gần nghĩa trang
Câu hỏi:
Hiện nay gia đình tôi đang sống bên cạnh một nghĩa trang cải táng,chúng tôi rất lo vì nguồn nước sử dụng chính là nước giếng,thời gian gần đây nguồn nước có mùi khó chịu,tôi phải lọc nhiều lần mới sử dụng được nhưng vẫn còn mùi.Tôi xin hỏi quy định nghĩa trang đến nhà tôi là bao nhiêu mét là an toàn,có được xây dựng nghĩa trang gần khu dân cư không. Tôi xin cảm ơn
Trả lời:
Sở TNMT Quảng Nam trả lời:
Theo QCXDVN 01:2008/BXD - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy hoạch xây dựng được ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng quy định như sau: 

Khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường (ATVSMT) nhỏ nhất từ nghĩa trang đến đường bao khu dân cư, trường học, bệnh viện, công sở... được quy định như sau:

- Vùng đồng bằng:
+ Khoảng cách ATVSMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 1.500m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng; 
          + Khoảng cách ATVSMT tối thiểu của nghĩa trang cát táng: 100m.
         - Vùng trung du, miền núi:
+ Khoảng cách ATVSMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 2.000m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng;
+ Khoảng cách ATVSMT tối thiểu của nghĩa trang cát táng: 100m.
- Đối với nghĩa trang chôn cất một lần, khoảng cách ATVMT tối thiểu 500m.
- Khoảng cách ATVSMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng đến công trình khai thác nước sinh hoạt tập trung là 2.500m.
- Khoảng cách ATVSMT tối thiểu từ nghĩa trang đến mép nước gần nhất của mặt nước (sông, hồ, biển) không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt:
+ Đối với nghĩa trang hung táng: 300m;
+ Đối với nghĩa trang cát táng: 100m.
- Khoảng cách ATVSMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng tới đường giao thông vành đai đô thị, đường sắt là 200m và phải có cây xanh bao quanh nghĩa trang.
- Khoảng cách ATVSMT nhỏ nhất từ công trình hỏa táng xây dựng mới đến khu dân cư, công trình công cộng và dân dụng gần nhất: 500m.
- Trong vùng ATVSMT của nghĩa trang được thực hiện các hoạt động canh tác nông, lâm nghiệp, được xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thủy lợi, tuyến và trạm điện, hệ thống thoát nước, truyền tải xăng dầu...;

Lên phía trên
Thải chất thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
1. Trường hợp các hộ chăn nuôi gia cầm (vịt): xây dựng chuồng trại, rào lưới nuôi nhốt vịt thả trên sông, kênh, rạch với quy mô nhỏ (khoảng 100 con). Mùi hôi không có phát sinh. Theo Quyết định số 04/2009 của UBND tỉnh Bến tre qui định thì hộ đã vi phạm vào khoảng 7 điều 4 về hành vi xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm trên sông, kênh, rạch. Thì hình thức xử phạt vi phạm hành chính như thế nào? rơi vào khung nào? với mức tiền là bao nhiêu?
2. các Hộ dân trong khu vực đông dân cư không chịu đăng ký thu gom rác để đơn vị thu gom xử lý rác tập trung, nhưng các hộ đó lén đổ rác vào thùng đựng rác do cơ quan địa phương bố trí mà không đóng phí rác theo quy định. Thì hình thức xử phạt vi phạm hành chính như thế nào? rơi vào khung nào? với mức tiền là bao nhiêu?
3. Các hộ kinh doanh trong khu vực đông dân cư. Đăng ký để cơ quan thu gom rác để xử lý, nhưng không chịu đóng mức phí theo quy định. lý do: các hộ này nói do kinh doanh nhỏ lẻ, rác không nhìu... Thì hình thức xử phạt vi phạm hành chính như thế nào? rơi vào khung nào? với mức tiền là bao nhiêu?
Trả lời:
Sở TNMT Bến Tre trả lời:
Đối với nội dung 1:

Ngày 18 tháng 9 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND quy định Về bảo vệ môi trường đối với cơ sở chăn nuôi và trung chuyển gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định số 04/2009/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2009 quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bến Tre;
- Căn cứ Khoản 6 Điều 4 Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND, thì hộ chăn nuôi có hành vi vi phạm pháp luật do xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia cầm trên sông, kênh, rạch.
- Đối với loại hình và quy mô chăn nuôi của hộ chăn nuôi thì Ủy ban nhân dân xã thực hiện kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của hộ chăn nuôi. Ủy ban nhân dân xã sẽ tiến hành kiểm tra và tuyên truyền vận động hộ chăn nuôi đến vị trí mới phù hợp với Quy hoạch phát triển chăn nuôi và giết mổ, chế biến sản phẩm gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Bến Tre đến năm 2020 (Quyết định số 2526/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh); phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc, diệt mầm bệnh đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi và các quy định về bảo vệ môi trường.
- Nếu sau khi tuyên truyền, vận động mà hộ chăn nuôi không di dời chuồng trại đến vị trí mới thì Ủy ban nhân dân xã căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải có biện pháp quản lý chất thải rắn, giảm thiểu tiếng ồn và xử lý nước thải, khí thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải; Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với nội dung 2,3:
- Theo Điều 3 Quyết định số 2832/2005/QĐ-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Ban hành Quy định quản lý rác thải trên địa bàn tỉnh Bến Tre, quy định trách nhiệm các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất thuộc “đối tượng đăng ký thu gom rác” (là các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất hoạt động nằm trong phạm vi mà đơn vị thu gom rác đang thực hiện thu gom hoặc triển khai thu gom) như sau:
+ Khi nhận được thông báo của đơn vị thu gom rác, đối tượng đăng ký thu gom rác có trách nhiệm thu gom rác theo yêu cầu của đơn vị thu gom rác;
+ Đối tượng đăng ký thu gom rác phải bỏ rác đúng nơi và thời gian quy định của đơn vị thu gom rác;
+ Khi có thông báo, quy định phân loại rác thì các đối tượng đăng ký thu gom rác có trách nhiệm phân loại và bỏ rác theo đúng quy định;
+ Đối tượng đăng ký thu gom rác phải có trách nhiệm đóng phí vệ sinh đầy đủ cho đơn vị thu gom rác;
+ Nghiêm cấm đối tượng đăng ký thu gom rác: trốn tránh tránh nhiệm đăng ký thu gom rác và thải rác thải không đúng nơi quy định.
- Đối với trường hợp các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất thuộc “đối tượng đăng ký thu gom rác” không chịu đóng phí vệ sinh đầy đủ cho đơn vị thu gom rác, thì: đơn vị thu gom rác phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền cho “đối tượng đăng ký thu gom rác” các nội dung nêu trên và vận động phải có trách nhiệm đóng phí vệ sinh đầy đủ cho đơn vị thu gom rác. 
Nếu “đối tượng đăng ký thu gom rác” có hành vi thải rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định hoặc không đúng quy định về bảo vệ môi trường, thì bị xử phạt như sau (căn cứ Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường):
a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi vứt, thải, bỏ đầu, mẫu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng;
b) Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng, trừ vi phạm quy định tại Điểm d Khoản này;
c) Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi vệ sinh cá nhân (tiểu tiện, đại tiện) không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng;
d) Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi vứt, thải rác thải sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị;
đ) Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thu gom rác thải sinh hoạt không đúng quy định về bảo vệ môi trường.
Trân trọng chào ông !

Lên phía trên
Quan trắc nước thải KCN
Câu hỏi:
1. Quy định các Doanh nghiệp, các KCN phải lắp đặt các thiết bị quan trắc tự động được quy định ở đâu?
2. Hiện các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã được lắp đặt hết các trạm quan trắc tự động hay chưa? Hiệu quả hoạt động của các trạm này như thế nào? Đã có bao nhiêu trạm thực hiện truyền dữ liệu quan trắc tự động về Sở tài nguyên và Môi trường? Thông qua kiểm soát chất lượng nước thải, khí thải bằng hệ thống quan trắc tự động có nâng cao hiệu quả quản lý về bảo vệ môi trường ở Đồng Nai hay không? Vì tôi thấy việc này rất tốn kém, nếu không hiệu quả sẽ trở thành lãng phí rất lớn.
Trân trọng cảm ơn./.
Trả lời:
Sở TNMT Đồng Nai trả lời:
1. Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp phải thực hiện việc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục theo quy định tại khoản 3, điều 1 Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009.
Đến nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có 17 Khu công nghiệp (KCN) được lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động. Trong đó có 14/17 trạm đã truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường.ư

2. Kết quả vận hành các trạm quan trắc tự động nước thải tại các hệ thống xử lý nước thải tập trung của các KCN, đặc biệt là từ sau khi có kết nối truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường, đã phục vụ rất tốt công tác giám sát nguồn thải, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước. Vì so với công tác thu mẫu, giám sát nước thải định kỳ, thì việc quan trắc tự động giúp kiểm soát nước thải tại các KCN suốt 24/24 giờ trong ngày, cho phép truy xuất số liệu để đánh giá nhanh tình hình ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn tỉnh, cảnh báo kịp thời đến doanh nghiệp để khắc phục ngay khi có sự cố nước thải vượt tiêu chuẩn xả thải. Từ đó tiến hành ngay các giải pháp khắc phục sự cố của hệ thống xử lý nước thải, không để xảy ra tình trạng xả nước thải vượt tiêu chuẩn quy định.

Lên phía trên
Bức xúc trước tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt nghiêm trọng, trong mùa khô tại thành phố Đà Nẵng
Câu hỏi:
Cử tri bày tỏ bức xúc trước tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt nghiêm trọng, trong mùa khô tại thành phố Đà Nẵng, nguyên nhân chính là do hệ thống thủy điện ở đầu nguồn sông Vu Gia, đặc biệt là thủy điện Đăk Mi 4 ngăn dòng, chuyển nước về sông Thu Bồn, không thực hiện xả nước theo cam kết. Đề nghị xử lý dứt điểm tình trạng này.
Trả lời:
Trong những năm gần đây, diễn biến nguồn nước trên các sông, suối thuộc hệ thống sông miền Trung nói chung và Vu Gia – Thu Bồn nói riêng rất phức tạp và đang chịu nhiều tác động do biến đổi khí hậu cũng như việc khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn. Bên cạnh đó với việc các hồ chứa hiện có trên lưu vực có dung tích tương đối nhỏ so với tổng lượng dòng chảy trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn nên việc tham gia chống lũ trong mùa lũ và cấp nước cho hạ du trong mùa cạn là một nhiệm vụ hết sức khó khăn.

Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng và các đơn vị quản lý các hồ chứa A Vương, Đăk Mi 4 và Sông Tranh 2 và các Bộ, ngành có liên quan để xem xét, đánh giá hiện trạng và nhu cầu dung nước của các ngành ở hạ du các hồ chứa, thống nhất xác định các điểm kiểm soát trong mùa cạn và đã thống nhất chọn các trạm thủy văn Ái Nghĩa và Giao Thủy là điểm kiểm soát mực nước dưới hạ du để quyết định phương án vận hành các hồ chứa. Trên nguyên tắc vận hành hồ chứa trong mùa cạn phải đảm bảo nhu cầu sử dụng nước tối thiểu hạ du là ưu tiên hàng đầu sau đó mới là hiệu quả phát điện, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cùng các cơ quan, đơn vị liên quan và các chuyên gia khẩn trương nghiên cứu, tính toán các phương án phối hợp vận hành các hồ chứa trong mùa cạn để điều tiết cấp nước cho hạ du và dự thảo các nội dung quy định vận hành liên hồ chứa trong mùa cạn nhằm đảm bảo hài hòa giữa nhu cầu dùng nước hạ du và hiệu quả phát điện theo các thời kỳ dùng nước.

Để giải quyết triệt để tình trạng thiếu nước ở hạ du sông Vu Gia trong mùa cạn đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ ngành, địa phương trong việc lập kế hoạch sử dụng nước. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn trong mùa lũ hàng năm (Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 16 tháng 6 năm 2014). Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiếp tục rà soát, nghiên cứu một số ý kiến góp ý cho quy trình vận hành mùa cạn, trong đó có ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, hiện nay công trình thủy điện Sông Bung 4 đang chuẩn bị tích nước và đi vào vận hành sẽ tăng dung tích phòng lũ và cấp nước cho hạ du trong mùa cạn, do đó, Bộ đang tập trung tính toán, bổ sung phương án vận hành trong điều kiện hồ Sông Bung 4 vận hành trên hệ thống để hoàn thiện quy trình vận hành mùa cạn, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
 
Lên phía trên
Quản lý môi trường đối với khu vực khai thác khoáng sản
Câu hỏi:
Đề nghị khắc phục tình trạng buông lỏng trong việc quản lý môi trường đối với khu vực khai thác khoáng sản, đã gây ảnh hưởng tới đời sống nhân dân.
Trả lời:
Công tác quản lý về bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản được Bộ Tài nguyên và Môi trường đặc biệt quan tâm. Bộ luôn chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức, các cá nhân khai thác khoáng sản nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong Luật khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản. Việc thanh tra, kiểm tra tập trung vào các hành vị như: tuân thủ nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, Đề án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt; công tác quản lý chất thải, chất thải nguy hại; hành vi xả nước thải đối với các loại hình khai thác khoáng sản kim loại, khoáng sản có tính phóng xạ, độc hại; công tác ký quỹ và cải tạo, phục hồi môi trường.

Để đẩy mạnh trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với công tác cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản (Quyết định này thay thế Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ).

Triển khai Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Bộ đang xây dựng quy chế bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản; hoàn thiện các văn bản quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
2. Trong thời gian tới, Bộ sẽ phối hợp với các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý, xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Bộ sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, trình Chính phủ Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường (theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014). Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ và các địa phương để kịp thời xử lý các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong hoạt động khoáng sản.
Lên phía trên
Điều hành và quản lý môi trường, đặc biệt là vấn đề giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường sông Đáy và Sông Nhuệ
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục kiến nghị tăng cường công tác điều hành và quản lý môi trường, đặc biệt là vấn đề giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường sông Đáy và Sông Nhuệ
Trả lời:
1. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường tại các lưu vực sông, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 03 Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông: sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên các lưu vực sông chỉ đạo, đôn đốc và tổ chức thực hiện các Đề án này. Bộ đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ thành lập 03 Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông, gọi tắt là Uỷ ban sông Cầu, Uỷ ban sông Nhuệ - sông Đáy và Uỷ ban sông Đồng Nai. Các Uỷ ban này đã hoạt động, thực hiện chức năng chỉ đạo, điều phối được quy định thông qua các Phiên họp toàn thể. Để giúp việc cho Uỷ ban, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã quyết định thành lập Văn phòng Uỷ ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông đặt tại Tổng cục Môi trường thuộc Bộ.
Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường, với tư cách là cơ quan được Thủ tướng Chính phủ giao đầu mối chủ trì việc thực hiện Đề án tổng thể sông Nhuệ - sông Đáy đã chủ trì, phối hợp với các địa phương và Bộ, ngành nỗ lực đưa ra các giải pháp, kế hoạch triển khai Đề án. Các địa phương trong lưu vực sông đã ý thức được trách nhiệm của mình và đã đề xuất Kế hoạch triển khai Đề án sông Nhuệ - sông Đáy cho địa phương mình. Các Bộ, ngành cũng đã có những nhiệm vụ, dự án triển khai trên sông Nhuệ - sông Đáy. Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy và thực hiện các nội dung của Đề án, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, đưa công tác bảo vệ môi trường tới cấp cơ sở; đã tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, kiên quyết xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; đã cơ bản hoàn thành việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, quan trắc giám sát thường xuyên chất lượng nước sông, tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường lưu vực sông. Định kỳ hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đều có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy.

2. Trong thời gian tới, nhằm khắc phục ngăn chặn có hiệu quả hơn nữa tình trạng ô nhiễm môi trường nước các lưu vực sông nói chung và lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy nói riêng, Bộ tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Cập nhật thống kê, quản lý và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải trên lưu vực sông; khẩn trương xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư thu gom xử lý nước thải của các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, chất thải nông thôn, chương trình khắc phục ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy;
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy;
- Xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; đánh giá ngưỡng chịu tải; quan trắc định kỳ, xây dựng cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường nước….
- Xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông, đưa nội dung triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy vào Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2012 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015.
Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ủy bản Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, các Bộ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và bảo vệ môi trường; triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong năm 2014 trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, cụ thể: đẩy nhanh tiến độ triển khai xử lý ô nhiễm làng nghề tại tỉnh Hà Nam (Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá), xử lý ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại Nam Định. Phối hợp với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, tiếp tục triển khai Dự án xử lý nước thải Cầu Ngà và Dự án xử lý nước thải sinh hoạt Xã Xuân Phương, huyện Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Lên phía trên
Giải quyết ô nhiễm môi trường nguồn nước sông, rạch
Câu hỏi:
Đề nghị có quy hoạch lâu dài để giải quyết ô nhiễm môi trường nguồn nước sông, rạch, vì hiện nay có rất nhiều hộ cất nhà trên sông, rạch (Cử tri tỉnh An Giang)
Trả lời:
Trong thời gian qua đã có nhiều văn bản được ban hành nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nguồn nước sông, rạch trên cả nước, như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong đó nêu mục tiêu tổng quát về bảo vệ môi trường đến năm 2020 là: “Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý”. Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Quyết định số 1287/QĐ-TTg ngày 02/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ phân công nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP nêu trên, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng hợp bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, Quyết định số 228/QĐ-TTg ngày 25/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công nghiệp thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2030; Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn lưu vực sông Cầu đến năm 2020,….

Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 đã quy định về việc xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường cấp địa phương và quốc gia, trong đó có nội dung quản lý môi trường biển, hải đảo và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức lưu vực sông (tại Chương II, Mục I Quy hoạch bảo vệ môi trường). Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Việc xây dựng quy hoạch lâu dài để giải quyết ô nhiễm môi trường nguồn nước sông, rạch các địa phương có liên quan tới xây cất nhà trên sông hiện nay phải được xây dựng lồng ghép vào trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh và tùy theo từng giai đoạn, từng nhiệm kỳ; mỗi tỉnh xây dựng và phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và sau đó tổ chức triển khai thực hiện trong phạm vi của địa phương thì mới mang tính khả thi phù hợp với thực tế của địa phương đó và do các địa phương tự thực hiện.
Lên phía trên
Phản ánh: chỉ hơn một tháng mà doanh nghiệp phát tiếp 03 đoàn đến kiểm tra môi trường
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, chỉ hơn một tháng mà doanh nghiệp phát tiếp 03 đoàn đến kiểm tra môi trường: 01 đoàn của Sở Tài nguyên và Môi trường, 01 đoàn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 01 đoàn của Bộ Công an, đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp đã trang bị đầy đủ các thiết bị bảo vệ môi trường, các đoàn chỉ phạt tiền những lỗi nhỏ không đáng phạt, không hướng dẫn, nhắc nhở hoặc cảnh báo, các đoàn kiểm tra không giúp đỡ gì cho doanh nghiệp. Cử tri đề nghị một năm chỉ kiểm tra một lần, nếu phát hiện có vi phạm thì kiểm tra đột xuất và kiểm tra để nhắc nhở, khắc phục chứ không kiểm tra chỉ để phạt tiền doanh nghiệp và không hướng dẫn, giúp đỡ gì
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trên phạm vi cả nước. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đều ban hành chương trình công tác của Bộ, trong đó có chương trình thanh tra, kiểm tra và bảo vệ môi trường và gửi cho các Bộ, ngành, các địa phương có liên quan để cùng phối hợp thực hiện nhằm tránh sự chồng chéo trong quá trình thanh tra, kiểm tra tại các địa phương. Ngoài ra, trước khi triển khai công tác thanh tra, kiểm tra và bảo vệ môi trường tại các địa phương theo kế hoạch đã được phê duyệt, Bộ Tài nguyên và Môi trường đều có văn bản gửi cho các địa phương liên quan để rà soát nhằm thống nhất các đối tượng mà Bộ dự kiến thanh tra, kiểm tra trên địa bàn tỉnh, đồng thời đề nghị các Bộ, ngành liên quan cũng như các Sở, ban, ngành các tỉnh biết và cử cán bộ tham gia đoàn thanh tra theo quy định. Như vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan từ Trung ương đến địa phương trước khi triển khai công tác thanh tra, kiểm tra tại địa phương nhằm tránh chồng lặp đối tượng được thanh tra theo đúng quan điểm của Bộ (theo quy định, việc thanh tra thường xuyên về bảo vệ môi trường đối với mỗi cơ sở không quá 02 lần/năm).
Lên phía trên
Chức năng quản lý nhà nước về quản lý chất thải nói chung
Câu hỏi:
Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý chất thải nói chung, bao gồm: chất thải, nước thải, chất thải rắn nguy hại, phế liệu, chất thải rắn công nghiệp, xây dựng, chất thải rắn thông thường, sinh hoạt và chất thải, nước thải trong lĩnh vực y tế,
Trả lời:
1. Trong những năm qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu, như:
- Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu. Trong năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch số 34/2012/TT-BCT-BTNMT ngày 15/11/2012 hướng dẫn điều kiện nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Đồng thời, để đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế của hoạt động nhập khẩu phế liệu và công tác bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, xây dựng và ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT ngày 28/01/2013 quy định về Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu. Bên cạnh đó, hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN) đối với phế liệu nhập khẩu cũng được từng bước hoàn thiện. Năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường như: QCVN 31:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với sắt, thép phế liệu nhập khẩu, QCVN 32:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với nhựa phế liệu nhập khẩu, QCVN 33:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với giấy phế liệu nhập khẩu.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề về kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu, có sự phối hợp thực hiện chặt chẽ giữa Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương, cơ quan Hải quan địa phương và lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường.
- Tăng cường tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu, cơ bản hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường và cơ quan quản lý về môi trường ở địa phương đã tổ chức tập huấn, phổ biến các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu.

2. Trong thời gian tới, nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu; hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu.
Lên phía trên
Quản lý nhà nước về môi trường, các vụ xả thải, chôn rác thải chưa được xử lý
Câu hỏi:
Cử tri kiến nghị tăng cường quản lý nhà nước về môi trường, vì các vụ xả thải, chôn rác thải chưa được xử lý nghiêm dẫn đến các doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật, gây bất bình trong nhân dân
Trả lời:
Thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương đã được tăng cường, hiệu quả quản lý đã ngày được nâng lên một cách rõ rệt, cụ thể:
1. Về công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường:
Để tạo hành lang pháp lý đủ mạnh, cập nhật, bổ sung các vấn đề nổi cộm của công tác bảo vệ môi trường hiện tại cũng như phân cấp trách nhiệm rõ ràng giữa các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; tăng cường tính răn đe đối với các đối tượng vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, mở rộng đối tượng và hành vi xử phạt, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan dự thảo Luật bảo vệ môi trường 2014 và được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hiện nay, Bộ đang chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014.

2. Công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường:
Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, các cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc. Qua đó đã phát hiện nhiều cơ sở và Khu công nghiệp xả trực tiếp hàng ngàn m3 nước thải không qua xử lý ra môi trường, chôn lấp chất thải với thủ đoạn tinh vi, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Điển hình là các trường hợp vi phạm các Công ty Tân Phát Tài (Biên Hòa, Đồng Nai); Công ty TNHH Long Tech Precision Việt Nam (Quế Võ, Bắc Ninh); Công ty Sonadezi Long Thành (Đồng Nai), KCN Dịch vụ Thủy sản Thọ Quang (khoảng 1.500 m3/ngày), KCN Liên Chiều và Công ty CP Gốm sứ Cosani (TP Đà Nẵng); Xí nghiệp chế biến thủy sản Cầu Quan – Công ty Nông sản Thực phẩm Trà Vinh (400 m3/ngày) và Công ty Thủy sản Cửu Long, tỉnh Trà Vinh (400 m3/ngày); Công ty TNHH Hùng Vương, Vĩnh Long (Chế biến thủy sản)….
Thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục tập trung đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật và bảo vệ môi trường, đặc biệt là hành vi xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường; phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả của hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, Bộ tiếp tục tập trung hoàn thiện các thể chế, chính sách có liên quan, dự kiến sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm tăng cường hơn nữa tính răn đe của các chế tài xử lý vi phạm và phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường 2014 có hiệu lực ngày 01/01/2015. Song song với các hoạt động này, Bộ sẽ làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của người dân, các doanh nghiệp, cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường.
Lên phía trên
đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường; đồng thời đầu tư cho các nghiên cứu có tính thực tiễn ứng dụng cao, hiệu quả kinh tế lớn, khuyến khích các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong quản lý và bảo vệ môi trường.
Trả lời:
1. Theo chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ giao, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt một số chương trình, đề án, dự án trọng điểm cấp Nhà nước để thực hiện Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011 – 2015, trong đó có Chương trình “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, mã số KC.08/11-15 (ban hành theo Quyết định số 3059/QĐ-BKHCN ngày 30/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ). Hàng năm, các Bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân đều đăng ký với Bộ Khoa học và Công nghệ để triển khai các đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm nghiên cứu, ứng dụng, triển khai các giải pháp khoa học, công nghệ và kỹ thuật trong quản lý vào bảo vệ môi trường.

2. Thời gian tới, để tiếp tục tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường trong danh mục Chương trình khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước (theo phân công của Chính phủ tại Quyết định số 1287/QĐ-TTg ngày 02/8/2013 về việc phân công nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường). 
Lên phía trên
Đề nghị tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc xây dựng, vận hành các công trình thủy điện trên dòng sông SêrêPốk và cho ngừng chủ trương xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục phản ánh, tình trạng xây dựng các công trình thủy điện chưa thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Đề nghị tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc xây dựng, vận hành các công trình thủy điện trên dòng sông SêrêPốk và cho ngừng chủ trương xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, vì hiện nay đã có quá nhiều (Kiến nghị của cử tri giửi tới Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII).
Trả lời:

Bộ Công thương trả lời như sau:

Về vấn đề quản lý xây dựng, vận hành các công trình thủy điện. Việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện đã và đang góp phần quan trọng trong việc đảm bảo  an ninh năng lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các hồ thủy điện sẽ chiếm khoảng 86% tổng dung tích của các hồ chứa trong cả nước. Đây là nguồn dung tích trữ lượng cực kỳ quan trọng, bảo đảm an ninh nguồn nước, đóng vai trò chủ chốt, đảm bảo chủ động điều tiết nước cấp cho hạ du đặc biệt trong những năm hạn hán và trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Tại Nghị quyết 62/2013/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013, Quốc Hội đã ghi nhận: các hồ thủy điện lớn đa mục tiêu đã góp phần cắt, giảm lũ, điều tiết lưu lượng, cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ môi trường. Quá trình đầu tư xây dựng, vận hành khai thác các công trình thủy điện đã tạo nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện còn nhiều hạn chế, tại một số công trình thủy điện, việc quản lý chất lượng xây dựng, bảo đảm an toàn vận hành khai thác, thực hiện quy trình vận hành hồ chứa, điều tiết nước chưa tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, gây tác động tiêu cực.

Hiện tại, các Bộ: Công thương, xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có dự án thủy điện trên địa bàn đã và đang triển khai tích cực Chương trình hành động của Chính phủ nhằm tăng cường hơn nữa về quản lý quy hoạch và các nội dung liên quan khác đối với lĩnh vực thủy điện nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng chưa tốt của thủy điện đến môi trường – xã hội, dân sinh kinh tế.

Ngày 10 tháng 3 năm 2014, Bộ Công thương đã ban hành Kế hoạch hành động số 2046/QĐ-BCT thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành khai thác công trình thủy điện. Theo kế hoạch hành động này Bộ Công thương triển khai thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thực hiện rà soát: Quy hoạch thủy điện; năng lượng của các cơ quan tư vấn lập quy hoạch và thiết kế công trình thủy điện; đảm bảo chất lượng, an toàn công trình, tuân thủ các yêu cầu về môi trường; tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư đối với các công trình thủy điện đang triển khai xây dựng; thực hiện quy trình vận hành hồ chứa; cấp hoặc thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực thủy điện.

Chủ trì thẩm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét đầu tư, khởi công Dự án thủy điện; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kiểm định, xử lý vi phạm về phòng chống lụt bão, an toàn đập, hồ chứa thủy điện; chỉ đạo xây dựng phương án về phòng chống lũ, lụt cho vùng hạ du các hồ chứa thủy điện trên các lưu vực sông lớn trong trường hợp xả lũ khẩn cấp hoặc vỡ đập (trước mắt là khu vực Tây nguyên và khu vực miền Trung.)
Tổ chức các Đoàn kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ tại các địa phương.

Ban hành các Chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu các địa phương và các đơn vị quản lý các nhà máy thủy điện tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ; công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn; công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du các nhà máy thủy điện; công tác quản lý vận hành hồ chứa thủy điện.

Rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với các công trình thủy điện, đề xuất việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thủy điện.

Xây dựng cơ chế tài chính đối với các nhà máy thủy điện vận hành cấp nước cho hạ du vào mùa khô theo yêu cầu sản xuất, sinh hoạt.

Xây dựng tài liệu, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về vao trò của các công trình thủy điện, phổ biến quy hoạch thủy điện và công tác phòng chống bão lụt.

Hàng năm tổng hợp báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và chuẩn bị báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội.

Bộ Công thương cũng đã ban hành 4 Chỉ thị liên quan thủy điện: Chỉ thị số 07/CT-BCT ngày 28 tháng 3 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ 2014; Chỉ thị số 13/CT-BCT ngày 29 tháng 4 năm 2014 về công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2014; Chỉ thị số 15/CT-BCT ngày 13 tháng 5 năm 2014 về việc thực hiện công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du các nhà máy thủy điện; Chỉ thị số 23/CT-BCT ngày 11 tháng 7 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý vận hành hồ chứa thủy điện.

Ngoài việc ban hành Kế hoạch hành động và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc nêu trên, Bộ Công thương cũng đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, nghành, địa phương tích cực thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Nghị quyết số 11/NQ-CP, cụ thể như sau:

Chủ trì và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam tổ chức Lễ phát động trồng rừng tại Nhà máy Thủy điện Sơn La ngày 22 tháng 3 năm 2014; Thực hiện thẩm định, phê duyệt phương án Phòng chống lụt bão, đảm bảo an toàn đập năm 2014 đối với các dự án thủy điện trên địa bàn cả nước; Tổ chức 4 Đoàn công tác đi làm việc và kiểm tra về quy hoạch, chất lượng xây dựng công trình, quy trình vận hành hồ chứa và các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thủy điện trên địa bàn các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Nam, Phú Yên. Đoàn công tác đã đi kiểm tra tại hiện trường một số Dự án thủy điện, khu tái định cư của các Dự án thủy điện và đã tổ chức các cuộc họp với Ủy ban nhân dân các tỉnh và các Sở: Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các Chủ đập thủy điện trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, phối hợp với sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự thảo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện và Quy định về ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện; phối hợp với sự chủ trì của Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, góp ý Quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ các lưu vực Sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Hương, sông Kôn – Hà Thanh, sông Hồng, Sông mã, sông Cả, Sông Trà Khúc và sông Đồng Nai, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Bên cạnh đó, chỉ đạo, triển khai thực hiên các Quyết định mới ban hành của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa các lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và sông Ba.

Đặc biệt, ngày 06 tháng 8 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã chủ trì cuộc họp với sự tham dự của đại diện các Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, cùng lãnh đạo 38 tỉnh, thành phố có hồ đập thủy điện trong cả nước để đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội. Tại cuộc họp, Bộ Công thương và các Bộ, nghành và địa phương đã đánh giá hiệu quả và những tồn tại trong quá trình thực hiện, đưa ra các phương hướng để triển khai mạnh mẽ hơn nữa Nghị quyết số 11/NQ-CP trong thời gian tới và có Báo cáo tổng thể báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII.

Về việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Bộ Công Thương cũng đã phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk rà soát lại quy hoạch và đầu tư thủy điện trên địa bàn, loại 17 dự án thủy điện nhỉ với tổng công suất 28,2 MW, 69 vị trí thủy điện nhỏ tiềm năng với tổng công suất 117,5 MW. Thời gian tới, Bộ Công thương sẽ tiếp tục phối hợp với Tỉnh kiểm soát chặt sẽ việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn theo các quy định của pháp luật.
Lên phía trên
Đề nghị quan tâm đầu tư cho tỉnh Đắk Lắk để triển khai Đề án cấp điện cho các thôn, buôn chưa có điện giai đoạn 2011 – 2020.
Câu hỏi:
Hiện nay, 40% số hộ gia đình tại 189 thôn, buôn ở vùng sâu, vùng xa thuộc các xã nghèo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa được mắc điện thắp sáng, nhất là các hộ đồng nào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đề nghị quan tâm đầu tư cho tỉnh Đắk Lắk để triển khai Đề án cấp điện cho các thôn, buôn chưa có điện giai đoạn 2011 – 2020 (kiến nghị của cử tri giửi tới Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII)
Trả lời:

Bộ Công thương trả lời về vấn đề cấp điện cho vùng sâu, vùng xa, các hộ dân thuộc xã nghèo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk:

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tích cực thực hiện các chương trình đầu tư đưa điện về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đến hết năm 2013, đã có 100% số huyện, 99,23% số xã và 97,62 số hộ dân nông thôn được sử dụng điện.

Ngày 08 tháng 11 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020” tại Quyết định số 2081/QĐ-TTg, với mục tiêu đến 2015 cơ bản các xã cả nước có điện đến trung tâm bản và đến năm 2020 hầu hết các hộ dân nông thôn có điện bằng nguồn điện lưới quốc gia và nguồn năng lượng tái tạo góp phần tạo động lực cho các chương trình mục tiêu về xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cung cấp đầy đủ thông tin về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cho đồng bào, đảm bảo công  bằng, an sinh xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc. Chương trình cấp điện nông thôn sẽ được triển khai trên 48 tỉnh/thành phố trong đó có tỉnh Đắk Lắk, cấp điện cho khoảng 1.288.900 hộ tại 12.140 thôn, bản trên cả nước với tổng số vốn đầu tư hơn 28.000 tỷ đồng.

Trong giai đoạn 2014 – 2020 nhu cầu đầu tư cấp điện cho ác thôn, ấp chưa có điện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk khoảng 600 tỷ đồng. Do đó để nhanh chóng triển khai Quyết định số 2081/QĐ-TTg, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chỉ đạo các sở, ban, nghành lập Dự án đầu tư trình Bộ Công Thương thỏa thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định nguồn vốn đầu tư nhằm triển khai các bước tiếp theo.
Lên phía trên
Quy trình vận hành liên hồ chứa
Câu hỏi:
Đề nghị quy định chặt chẽ việc xả lũ của các công trình thủy điện, phải vận hành đúng quy trình, không làm thiệt hại đến tính mạng và tài sản của người dân như thời gian vừa qua; trong trường hợp phát hiện vi phạm, phải xác định rõ trách nhiệm trong việc quy hoạch thủy điện cũng như công tác quản lý, vận hành các công trình thủy điện, tránh đùn đẩy trách nhiệm khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra; kịp thời khắc phục hậu quả cho người bị thiệt hại (Kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII)
Trả lời:
Bộ Công thương trả lời như sau:

Hầu hết các hồ chứa thủy điện đã vận hành hoặc chuẩn bị đưa vào vận hành hoặc chẩn bị đưa vào vận hành đều có Quy trình vận hành hồ chứa được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Những năm gần đây, công tác quản lý, vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện thường xuyên được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tại Quyết định số 1879/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng để ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông lớn đối với 61 hồ chứa thủy lợi, thủy điện quan trọng. Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy trình vận hành liên hồ về mùa lũ trên 5 lưu vực sông thường xuyên xảy ra lũ lụt (gồm 20 hồ chứa đã vận hành: Lưu vực sông Hồng: Quy trình vận hành liên hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà; Lưu vực sông Ba: Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Ba Hạ, sông Hinh, Krông Hnăng, Ayun Hạ và An Khê – Ka Nắk; Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Quy trình vận hành liên hồ chứa A Vương, Đắk Mi 4 và sông Tranh 2; Lưu vực sông Srêpốk 4: Quy trình vận hành liên hồ hồ chứa Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3 và Srêpốk 4; Lưu vực sông Sê San: Quy trình vận hành liên hồ chứa Plei Krông, Ialy, Sê San 4 và Sê San 4A). Hiện nay, Bộ Tài nguyen và Môi trường cũng đang tập trung xây dựng, bổ sung, sửa đổi để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa cả về mùa lũ và mùa kiệt cho các lưu vực sông lớn, dự kiến hoàn thành trong năm nay.

Trên thực tế, các Bộ, nghành và địa phương cũng đang triển khai tích cực trên các lĩnh vực rà soát quy hoạch, vận hành hồ chứa, quản lý an toàn đập, trồng rừng thay thế. Bộ Công Thương đã tiến hành kiểm tra, rà soát các quy định và việc thực hiện vận hành xả lũ tại các hồ chứa thủy điện khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Qua kiểm tra, làm việc với Ủy ban nhân dân các tỉnh, phân tích các số liệu vận hành của các hồ chứa, trong thời gian qua cho thấy, việc xả lũ, cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt về mùa khô của các hồ chứa thủy điện đã được thực hiện nghiêm túc theo các quy định trong Quy trình vận hành hồ chứa. Về mùa lũ đã có tác dụng giảm đỉnh lũ, về mùa khô đã có vai trò rất tích cực trong việc chống hạn, đặc biệt là khu vực miền Trung.

Trong nội dung của Quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa cũng đã quy định đầy đủ, chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp của Chủ hồ đập với Ban chỉ huy phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn của địa phương và Trung ương trong việc an toàn vận hành xả lũ, kế hoạch phối hợp với địa phương trong việc cấp nước. Ngày 10 tháng 3 năm 2014 Bộ Công thương đã ban hành Kế hoạch hành động số 2046/QĐ-BTC thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành khai thác công trình thủy điện. Theo kế hoạch hành động này Bộ Công thương triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thực hiện rà soát: Quy hoạch thủy điện , năng lực của các cơ quan tư vấn lập quy hoạch và thiết kế công trình thủy điện, đảm bảo chất lượng, an toàn công trình, tuân thủ các yêu cầu về môi trường, tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư đối với các công trình thủy điện đang triển khai xây dựng. Thực hiện quy trình vận hành hồ chứa, cấp hoặc thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực thủy điện; Chủ trì thẩm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét đầu tư, khởi công các Dự án thủy điện. Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kiểm định, xử lý vi phạm về phòng chống lụt bão, an toàn đập, hồ chứa thủy điện. Chỉ đạo xây dựng phương án phòng chống lũ, lụt cho vùng hạ du các hồ chứa thủy điện trên các lưu vực sông lớn trong trường hợp xả lũ khẩn cấp hoặc vỡ đập (trước mắt là khu vực miền Trung, Tây nguyên).

Tổ chức các Đoàn kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ_CP của Chính phủ tại các địa phương; Ban hành các Chỉ thị, văn bản của Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu các địa phương và các đơn vị quản lý các nhà máy thủy điện tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ. Công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn. Công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ  du các nhà máy thủy điện, đề xuất việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thủy điện.

Bên cạnh đó, rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với các công trình thủy điện, đề xuất việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thủy điện; Xây dựng cơ chế tài chính đối với các nhà máy thủy điện vận hành cấp nước cho hạ du vào mùa khô theo yêu cầu sản xuất sinh hoạt; Xây dựng tài liệu, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về vai trò của các công trình thủy điện, phổ biến quy hoạch thủy điện và các công tác phòng chống bão lụt.

Hàng năm tổng hợp báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và chuẩn bị báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội.

Bộ Công thương cũng đã ban hành 4 Chỉ thị liên quan thủy điện: Chỉ thị số 07/CT-BCT ngày 28 tháng 3 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ 2014; Chỉ thị số 13/CT-BCT ngày 29 tháng 4 năm 2014 về công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2014; Chỉ thị số 15/CT-BCT ngày 13 tháng 5 năm 2014 về việc thực hiện công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du các nhà máy thủy điện; Chỉ thị số 23/CT-BCT ngày 11 tháng 7 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý vận hành hồ chứa thủy điện.

Ngoài việc ban hành Kế hoạch hành động và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc nêu trên, Bộ Công thương cũng đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, nghành, địa phương tích cực thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Nghị quyết số 11/NQ-CP, cụ thể như sau:

Chủ trì và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam tổ chức Lễ phát động trồng rừng tại Nhà máy Thủy điện Sơn La ngày 22 tháng 3 năm 2014; Thực hiện thẩm định, phê duyệt phương án Phòng chống lụt bão, đảm bảo an toàn đập năm 2014 đối với các dự án thủy điện trên địa bàn cả nước; Tổ chức 4 Đoàn công tác đi làm việc và kiểm tra về quy hoạch, chất lượng xây dựng công trình, quy trình vận hành hồ chứa và các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thủy điện trên địa bàn các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Nam, Phú Yên. Đoàn công tác đã đi kiểm tra tại hiện trường một số Dự án thủy điện, khu tái định cư của các Dự án thủy điện và đã tổ chức các cuộc họp với Ủy ban nhân dân các tỉnh và các Sở: Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các Chủ đập thủy điện trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, phối hợp với sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự thảo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện và Quy định về ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện; phối hợp với sự chủ trì của Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, góp ý Quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ các lưu vực Sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Hương, sông Kôn – Hà Thanh, sông Hồng, Sông mã, sông Cả, Sông Trà Khúc và sông Đồng Nai, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

chỉ đạo, triển khai thực hiên các Quyết định mới ban hành của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa các lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và sông Ba.

Đặc biệt, ngày 06 tháng 8 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã chủ trì cuộc họp với sự tham dự của đại diện các Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, cùng lãnh đạo 38 tỉnh, thành phố có hồ đập thủy điện trong cả nước để đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội. Tại cuộc họp, Bộ Công thương và các Bộ, nghành và địa phương đã đánh giá hiệu quả và những tồn tại trong quá trình thực hiện, đưa ra các phương hướng để triển khai mạnh mẽ hơn nữa Nghị quyết số 11/NQ-CP trong thời gian tới và có Báo cáo tổng thể báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII.
 
Lên phía trên
Hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác sử dụng nước để phát điện
Câu hỏi:
Cho tôi hỏi hiện nay hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác sử dụng nước để phát điện có phải nộp kết quả phân tích chất lượng nguồn nước tại thời điểm nộp hồ sơ hay không? Trân trọng cám ơn.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
Theo quy định tại mục V Chương I của Đề án khai thác, sử dụng nước (Mẫu 29 của Phụ lục kèm theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/5/2014), trường hợp khai thác nước cho thủy điện thì không cần nộp kết quả phân tích chất lượng nước.

Lên phía trên
Vi phạm xả thải ra môi trường nhưng chưa được giải quyết dứt điểm tại Công ty Hào Dương
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, Công ty Hào Dương nhiều lần vi phạm xả thải ra môi trường nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Đề nghị xử lý triệt để, nghiêm minh hành vi gây ô nhiễm môi trường
Trả lời:
Năm 2009, 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành thanh tra công tác bảo vệ môi trường đối với công ty Cổ phần Thuộc da Hào Dương và đã 2 lần tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với Công ty, chuyển hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời Bộ cũng đã đưa Công ty vào danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử lý triệt để, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp xử lý. Ngày 11/7/2014, Bộ tiếp tục gửi Công văn số 2935/BTNMT-TCMT về việc xử lý thông tin do Báo Lao động đăng tải về các sai phạm của Công ty Cổ phần Thuộc da Hào Dương, trong đó đề nghị UBND Tp. Hồ Chí Minh xử lý nghiêm và dứt điểm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Công ty. Hiện tại Công ty vẫn đang tạm bị đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong các biện pháp bảo vệ môi trường theo Quyết định số 6090/QĐ-TĐCHĐ ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Lên phía trên
Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính
Câu hỏi:
Đề nghị sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong khu kinh tế, phù hợp với pháp luật hiện hành về thanh tra, về xử lý vi phạm hành chính.
Trả lời:
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, theo đó, khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.

Pháp luật hiện hành về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân, trong đó bao gồm cả tổ chức, cá nhân hoạt động trong các khu kinh tế và khu kinh tế cửa khẩu.

Ngày 14/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được Chính phủ giao chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để thay thế Nghị định 179/2013/NĐ-CP cho phù hợp với Luật bảo vệ môi trường năm 2014.
Lên phía trên
Giải pháp xử lý dứt điểm ô nhiễm ở các làng nghề
Câu hỏi:
Cử tri đề nghị Nhà nước có giải pháp xử lý dứt điểm ô nhiễm ở các làng nghề
Trả lời:
Ô nhiễm môi trường làng nghề là một trong những vấn đề môi trường bức xúc và khó giải quyết nhất trong giai đoạn hiện nay. Ngay sau khi có Nghị quyết số 19/2011/QH13 của Quốc hội về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó đã xác định ô nhiễm môi trường tại các làng nghề là một trong những vấn đề “nóng” trong giai đoạn hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 nhằm khẩn trương, nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ.

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 02/9/2012 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015, trong đó đã bố trí 2.420 tỷ đồng (1.420 tỷ đồng từ Ngân sách Trung ương, 700 tỷ đồng từ Ngân sách địa phương) cho việc khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng đã là một nỗ lực rất lớn trong giai đoạn khó khăn hiện nay. Tuy nhiên, để Chương trình đạt được mục tiêu đề ra, vai trò và trách nhiệm rất lớn thuộc về địa phương trong việc xây dựng, phê duyệt các dự án để sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích nguồn kinh phí đã được phê duyệt theo quy định.
Bên cạnh đó, tiếp tục ra soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề vay vốn ưu đãi để thay đổi công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường, áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, các công nghệ phù hợp để xử lý nước thải, khí thải, tiếng ồn và chất thải rắn, thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hóa các chính sách ưu đãi về thuê đất, thuế sử dụng đất… cho các đối tượng thuộc làng nghề truyên thống và các làng nghề đã được công nhận. Trước mắt, các Bộ đã thống nhất nội dung, cam kết phối hợp để triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường làng nghề, kiến nghị Chính phủ xem xét và quy định lại định nghĩa về làng nghề, đối tượng sản xuất nghề, ngành nghề nông thôn và ngành nghề nông thôn truyền thống để có những biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng theo chỉ đạo của Quốc hội tại Nghị quyết số 19/2011/QH13.

Thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường làng nghề tại các tỉnh, thành phố: Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam, Hà Nội và Thái Bình, đã xác định các “lỗ hổng” trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề tại địa phương để kiến nghị điều chỉnh. Tuy nhiên, việc xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề còn nhiều khó khăn. Trước mắt, cần triển khai từng bước theo lộ trình đã được xác định tại Đề án bảo vệ môi trường làng nghề, trong đó cần tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện các văn bản, chính sách về làng nghề nói chung và bảo vệ môi trường làng nghề nói riêng tại địa phương; đặc biệt sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước như chương trình khuyến công, phát triển nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia để xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng (hệ thống thoát nước, khu xử lý nước thải tập trung…) góp phần xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn.
Lên phía trên
Môi trường khu CN
Câu hỏi:
Phát triển các khu công nghiệp là chủ trương đúng đắn của Nhà nước, nhưng cần tính toán các yếu tố: môi trường, rác thải công nghiệp
Trả lời:
Trong những năm qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụ thể:
- Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tăng cường hướng dẫn thực thi văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Năm 2013, 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng, trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 23 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Trong đó, nội dung về quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã được quy định rất cụ thể tại các điều 65, 66, 67 và các điều khoản liên quan khác.
Bên cạnh đó, hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN) thường xuyên được Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, điều chỉnh, bổ sung, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ môi trường khu công nghiệp. Trong năm 2013, Bộ đã ban hành các quy chuẩn như: QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh; QCVN 50:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước; QCVN 51:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất thép; QCVN 52:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất thép.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, cụm công nghiệp, có sự phối hợp giữa Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Ban quản lý các khu công nghiệp và các cơ quan có liên quan, đã phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Tăng cường hướng dẫn thực hiện quan trắc, giám sát môi trường định kỳ cũng như đầu tư hệ thống quan trắc nước thải tự động tại các khu công nghiệp nhằm kịp thời phát hiện, xử lý sự cố môi trường xả ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp: Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan thường xuyên tổ chức tập huấn, phổ biến các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến công tác bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Ban quản lý các khu công nghiệp, các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấy hạ tầng Khu công nghiệp.
Mặc dù công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã từng bước đi vào nề nếp, tuy nhiên do yêu cầu cấp bách về đầu tư hạ tầng phát triển hoạt động sản xuất phục vụ tăng trưởng kinh tế xã hội nên vẫn còn khoảng 20% số khu công nghiệp chưa được chủ đầu tư chú trọng đầu tư hệ thống xử lý nước thải, xảy ra tình trạng xả thải vượt quy chuẩn gây ô nhiễm môi trường mà cử tri cũng như báo chí đã phản ánh trong thời gian qua.
Thời gian tới, nhằm tăng cường hiệu quả hơn nữa công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, cụm công nghiệp bảo đảm phù hợp với tính chất phát triển và hoạt động sản xuất đặc thù của từng loại hình khu công nghiệp, cụm công nghiệp; xây dựng các quy định hướng dẫn việc công khai thông tin, hồ sơ kỹ thuật vận hành công trình bảo vệ môi trường, hệ thống quan trắc môi trường tự động trong khu công nghiệp; tăng cường thanh, kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Lên phía trên
Trong trường hợp bị xử phạt về hành vi xả nước thải thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ áp dụng luật bảo vệ môi trường hay luật tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Cơ sở của tôi làm chế biến thức ăn gia súc từ trước năm 1993, nhưng đến năm 2010 tôi mới làm giấy phép đăng ký kinh doanh. Từ trước đến giờ tôi vẫn chưa thực hiện thủ tục đăng ký môi trường nào (như bản cam kết bảo vệ môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuản môi trường, bản báo cáo đánh giá tác động môi trường). như vậy hiện nay tôi có cần thực hiện các thủ tục lập bản cam kết bảo vệ môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hay đánh giá tác động môi trường không? và tôi có bị xử phạt gì về lĩnh vực môi trường hay không? hiện cơ sở của tôi đang xả nước thải chế biến trực tiếp ra suối, nếu cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường muốn xử phạt cơ sở của tôi thì cơ quan đó phải lấy mẫu và đưa đi phân tích phải không? Trong trường hợp bị xử phạt về hành vi xả nước thải thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ áp dụng luật bảo vệ môi trường hay luật tài nguyên nước? (Nguyễn Việt Hùng, 48 tuổi, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, Lai Châu)
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu trả lời như sau:
 
1. Ý thứ nhất: Chủ cơ sở đang hoạt động, không có báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt hoặc cam kết bảo vệ môi trường được chấp thuận, bây giờ có cần làm thủ tục này không?
 
- Năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 121/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 có quy định tại Điểm 101, Phụ lục 2 của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định "Dự án xây dựng cơ sở chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thức ăn thủy sản, phụ phẩm thủy sản có công suất 1.000 tấn sản phẩm/năm trở lên" phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình UBND tỉnh thẩm định, phê duyệt (nộp hồ sơ tại cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định là Sở Tài nguyên và Môi trường), các cơ sở có công suất dưới 1.000 tấn sản phẩm/năm thì lập cam kết bảo vệ môi trường trình UBND cấp huyện để được chấp thuận (nộp hồ sơ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường), thời điểm lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường trước khi trước khi dự án đi vào hoạt động. Nhưng lúc này, cơ sở của ông đã đi vào hoạt động nên có thể áp dụng Điều khoản chuyển tiếp quy định tại Khoản 3, Điều 39 của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định, trong vòng 02 năm kể từ khi Nghị định số 29/2011/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 05/6/2011 đến 05/6/2013), các đối tượng này được phép hoàn tất thủ tục, hồ sơ pháp lý về môi trường. 
 
- Ngày 07/5/2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 1670/BTNMT-TCMT yêu cầu không tiếp nhận hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản sau ngày 05/6/2013. Theo đó, những cơ sở như của ông Nguyễn Việt Hùng không được phép lập hồ sơ xin cấp phép về môi trường, mà yêu cầu các cơ sở phải thực hiện biện pháp quản lý chất thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn...phát sinh trong quá trình hoạt động, không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Sau khi có hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với các cơ sở đang hoạt động nhưng không có hồ sơ cấp phép về môi trường như trường hợp của ông Nguyễn Việt Hùng, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có thông báo cụ thể sau.
 
2. Ý thứ 2: Có bị xử phạt về môi trường không? Xin trả lời là có, mức xử phạt cụ thể tuỳ theo quy mô công suất quy định tại Điều 12 của Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
 
3. Ý thứ 3. Cơ sở xả trực tiếp ra suối, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường muốn xử phạt cơ sở thì có phải lấy mẫu và đưa đi phân tích không: Áp dụng Điểm c, Khoản 2 hoặc Khoản 3 (tuỳ theo quy mô công suất) của Điều 12, Nghị định 179/2013/NĐ-CP, không cần phân tích mẫu đã có thể xử phạt vi phạm của cơ sở ông Nguyễn Việt Hùng với hành vi không có hệ thống xử lý nước thải.
 
4. Trong trường hợp bị xử phạt về hành vi xả nước thải thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ áp dụng Luật Bảo vệ môi trường hay Luật Tài nguyên nước: Xin trả lời là sẽ bị xử lý theo cả 02 Luật trên, cụ thể: Quy định về bảo vệ môi trường với hành vi: Không có công trình xử lý nước thải (như vừa nêu trên), xả thải vượt quy chuẩn cho phép (xử lỗi vi phạm này phải có phân tích mẫu nước thải, mức xử phạt cụ thể quy định tại Điều 13, 14 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP) và xử phạt hành vi xả nước thải chưa có giấy phép theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
 
Lên phía trên
Hiện Đồng Nai không cấp phép mục đích khai thác nước để đóng bình 20L, trong khi ở vùng nông thôn lại rất cần do chưa có nước cấp tập trung. Hỏi: Tỉnh Đồng Nai hạn chế như vậy đã hợp lý chưa?
Câu hỏi:
Hiện Đồng Nai không cấp phép mục đích khai thác nước để đóng bình 20L, trong khi ở vùng nông thôn lại rất cần do chưa có nước cấp tập trung. Hỏi: Tỉnh Đồng Nai hạn chế như vậy đã hợp lý chưa?
(Võ Bá Nguyên, 33 tuổi, Công ty TNHH Phát triển Công nghệ Môi trường Thuận Phát, thành phố Biên Hòa).
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Việc hạn chế khai thác nước dưới đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Luật tài nguyên nước quy định cụ thể các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất và các hình thức hạn chế khai thác nước dưới đất tại khoản 4 và khoản 5 của Điều 52 của Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
 
Khoản 4 - Hạn chế khai thác nước dưới đất tại các khu vực sau đây:

a) Khu vực có nguồn nước mặt có khả năng đáp ứng ổn định cho các nhu cầu sử dụng nước; 
b) Khu vực có mực nước dưới đất bị suy giảm liên tục và có nguy cơ bị hạ thấp quá mức;
c) Khu vực có nguy cơ sụt, lún đất, xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm do khai thác nước dưới đất;
d) Khu vực có nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm hoặc có dấu hiệu ô nhiễm nhưng chưa có giải pháp công nghệ xử lý bảo đảm chất lượng;
đ) Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã có hệ thống cấp nước tập trung và dịch vụ cấp nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng.

Khoản 5 - Các hình thức hạn chế khai thác nước dưới đất bao gồm: 
 
a) Hạn chế về đối tượng, mục đích khai thác;
b) Hạn chế về lưu lượng, thời gian khai thác;
c) Hạn chế về số lượng công trình, độ sâu, tầng chứa nước khai thác.
 
 
Lên phía trên
Quy định hiện nay về thủ tục xin phép khai thác nước ngầm có yêu cầu về mục đích sử dụng đất trong giấy tờ đất đai và thủ tục, giấy tờ về môi trường như thế nào?
Câu hỏi:
Chúng tôi là đơn vị tư vấn tại Đồng Nai, chúng tôi xin phép hỏi Bộ TNMT một số nội dung sau: Quy định hiện nay về thủ tục xin phép khai thác nước ngầm có yêu cầu về mục đích sử dụng đất trong giấy tờ đất đai và thủ tục, giấy tờ về môi trường như thế nào? Hiện Sở TNMT Đồng Nai không nhận hồ sơ cấp giấy phép nếu khách hàng chúng tôi không có đủ giấy tờ nêu trên, như vậy đã đúng chưa? (Võ Bá Nguyên, 33 tuổi,
Công ty TNHH Phát triển Công nghệ Môi trường Thuận Phát, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai).
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
Hiện nay, theo quy định tại Điều 31 của Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật tài nguyên nước thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất không bao gồm giấy tờ sử dụng đất, giấy tờ về môi trường (nhưng phải có kết quản phân tích chất lượng nguồn nước).
 
Lên phía trên
Sở TN&MT có quản lý chất lượng nước máy trên địa bàn tỉnh hay không?
Câu hỏi:
Vừa qua tôi có nghe trên thông tin đại chúng về chất lượng nước máy của ta, nước khai thác từ nguồn thì sạch mà khi về đến nhà dân thì lại bị bẩn. Vậy tôi xin hỏi Sở TN&MT là đơn vị tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Ninh về quản lý TN nước, vậy Sở TN&MT có quản lý chất lượng nước máy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hay không? Chúng tôi là người dân khi mua nước sinh hoạt là của các công ty cấp nước, khi người dân chúng tôi thấy chất lượng nước không đảm bảo vệ sinh, chúng tôi phản ánh ở đâu? báo cho cấp nào để giải quyết?
Trả lời:
Sở TN&MT Quảng Ninh trả lời:

Sở TN&MT nhận được câu hỏi bày tỏ sự quan tâm của bác về chất lượng nước máy cấp cho các khu vực đô thị có hiện tượng khi đến nhà dân thì bẩn.
Sở TN&MT là cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, có trách nhiệm tham mưu và quản lý các nguồn nước trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có các nguồn nước phục vụ để xử lý thành nước cấp sinh hoạt cho các khu đô thị.
Trong những năm qua, Sở TN&MT thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh đã triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý, nhằm từng bước quản lý chặt chẽ các nguồn nước, kiểm soát chất lượng nước. 
Các nguồn nước cấp cho sinh hoạt được lựa chọn từ nguồn nước ổn định cả về lưu lượng và chất lượng. Khu vực Đông Hạ Long hiện được cấp nước từ Nhà máy nước Diễn Vọng dùng nguồn nước hồ Cao Vân, chất lượng nước hồ Cao Vân được bảo vệ tương đối tốt, chưa có hiện tượng ô nhiễm, chất lượng nước sau xử lý tại nhà máy nước Diễn Vọng đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định. Ngoài ra trên mạng lưới cấp nước phía Đông Hạ Long còn có một số giếng nước ngầm để bổ sung nguồn nước khi cần thiết, các giếng nước về cơ bản có chất lượng ổn định, một số giếng có chỉ tiêu hàm lượng sắt cao hơn quy chuẩn, tuy nhiên các trạm bơm đã có hệ thống xử lý đạt quy chuẩn trước khi hòa mạng cấp nước.
Về chất lượng nước sạch cấp cho các hộ sử dụng, theo quy định: chức năng quản lý về hệ thống cấp nước thuộc Sở Xây dựng; quản lý chất lượng đầu ra của hệ thống cấp nước là Sở Y tế (quản lý theo QCVN 01:2009/BYT quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt); đơn vị cấp nước có trách nhiệm kiểm tra chất lượng nước trước khi cấp vào mạng theo QCVN 01:2009/BYT.
Khi có hiện tượng kém chất lượng trong hệ thống cấp nước tập trung, đề nghị các tổ chức, cá nhân liên hệ với Sở Xây dựng, Sở Y tế, Công ty CP Kinh doanh nước sạch Quảng Ninh để được giải đáp và trả lời cụ thể.
 
Lên phía trên
Nếu phòng khám nằm trong khu thương mại đã có hệ thống xử lý nước thải thì có cần xây dựng riêng hệ thống xử lý nước thải cho phòng khám không?
Câu hỏi:
Nếu phòng khám nằm trong khu thương mại đã có hệ thống xử lý nước thải thì có cần xây dựng riêng hệ thống xử lý nước thải cho phòng khám không?
Trả lời:
Sở TN&MT TP. HCM trả lời:
Bạn cần kiểm tra lại nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Bản Cam kết bảo vệ môi trường của dự án Khu thương mại đã được phê duyệt:
- Nếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Bản Cam kết bảo vệ môi trường của dự án Khu thương mại có đề cập đến hoạt động của Phòng khám và việc xử lý nước thải phát sinh từ hoạt động của Phòng khám khi tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu thương mại, thì trước khi đưa Phòng khám đi vào hoạt động chính thức chủ đầu tư không phải lập Bản cam kết bảo vệ môi trường và không phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng.
- Nếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Bản Cam kết bảo vệ môi trường của dự án Khu thương mại không đề cập đến hoạt động của Phòng khám và việc xử lý nước thải phát sinh từ hoạt động của Phòng khám, thì trước khi đưa Phòng khám đi vào hoạt động chính thức chủ đầu tư phải lập Bản cam kết bảo vệ môi trường và xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng theo quy định.
Đề nghị bạn liên hệ Phòng TNMT nơi thực hiện dự án để hiểu rõ thêm về các thủ tục môi trường đối với hoạt động của Phòng khám./.
 
Lên phía trên
Lập hồ sơ xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Kính gửi Sở Tài Nguyên và Môi Trường,Công ty của tôi hiện đang hoàn thành trạm xử lý nước thải cho một khu dân cư, có công suất 2.000m3/ngày đêm. Và nước thài sinh hoạt sau khi xử lý sẽ được xả trực tiếp ra sông. Tôi muốn hỏi, để trạm chính thức được hoạt động, cty tôi cần những thủ tục gì? và chuẩn bị hồ sơ xin phép gồm những gì?Cám ơn
Trả lời:
Sở TNMT TP. Hồ Chí Minh trả lời:
- Nếu Trạm xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày của khu dân cư đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường chi tiết thì trước khi đưa Trạm xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành chính thức, phải thực hiện các thủ tục như sau:
+ Lập hồ sơ xác nhận việc thực hiện các công trình biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của Dự án theo quy định tại Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của Chính Phủ và Thông tư số 26/2011/TT-BNTMT ngày 18/07/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc lập hồ sơ xác nhận hoàn thành việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết theo quy định tại Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 16/3/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
+ Lập hồ sơ xin phép xả nước thải vào nguồn nước theo quy định.
- Nếu Trạm xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày của khu dân cư không thuộc trường hợp nêu trên, đề nghị bạn liên hệ Chi cục Bảo vệ Môi trường-Sở Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn chi tiết.
 
Lên phía trên
Gia đình tôi muốn khoan 01 cây nước để sử dụng, vậy tôi cần đi đến đâu để đăng ký, thủ tục hồ sơ gồm có những gì?
Câu hỏi:
Gia đình tôi muốn khoan 01 cây nước để sử dụng, nghe nói muốn khoan thì phải xin phép, vậy tôi cần đi đến đâu để đăng ký, thủ tục hồ sơ gồm có những gì?
Trả lời:
Sở TNMT Cà Mau trả lời:
Căn cứ khoản 2 Điều 44 của Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 và khoản 1 Điều 17 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước thì trường hợp của ông không phải xin phép nhưng phải đến UBND phường Tân Xuyên, thành phố Cà Mau để đăng ký khai thác.
 
Lên phía trên
Xả chất thải chưa qua xử lý vào ao gây ô nhiễm môi trường?
Câu hỏi:
Em gái tôi cư trú tại thôn Võng Phan, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên có thầu dài hạn gần 400 mét vuông mặt nước để thả cá nhưng bị hai gia đình bên cạnh nuôi lợn công nghiệp nhưng thả chất thải và phân lợn chưa qua xử lý xuống ao của em tôi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vĩ thế, cá trong ao chết hàng loạt, bà con xung quanh phải chịu cảnh ô nhiễm môi trường sông.
Vậy tôi xin hỏi:
1- Sự việc trên có vi phạm Luật môi trường không? Thể hiện ở văn bản quy phạm pháp luật nào?
2- Sự việc này không hòa giải được, tôi muốn đề nghị cơ quan công quyền nào giải quyết?
Xin trân trọng cảm ơn!
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường: Trách nhiệm bảo vệ môi tr¬ường của tổ chức, cá nhân trong họat động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải “phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của mình”. Việc 02 hộ gia đình xả chất thải (phân lợn chưa qua xử lý xuống ao) gây ô nhiễm môi trường; Khoản 5 Điều 7 Luật bảo vệ môi trường nghiêm cấm: “Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước” như vậy, việc xả chất thải chưa qua xử lý vào ao gây ô nhiễm môi trường là vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.
 
Khi có hiện tượng cá chết, ông cần báo cho UBND cấp xã biết để lập biên bản ghi nhận số lượng cá chết và xác định nguyên nhân gây cá chết, trên cơ sở đó sẽ xử phạt tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, yêu cầu khắc phục ô nhiễm và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Việc ông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (xả thải gây ô nhiêm nguồn nước ao, hồ nuôi cá) là nội dung tố cáo, thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp tỉnh và cấp huyện, UBND cấp xã có chứ năng hòa giải, theo quy định tại Điều 122 Luật Bảo vệ môi trường. Như vậy, sau khi không giải quyết hòa giải được, ông có thể gửi đơn đến UBND cấp huyện để được xem xét giải quyết.
 
Lên phía trên
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt?
Câu hỏi:
Tại Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về chất lượng nước ăn uống ( quy chuẩn do Bộ y tế ban hành)
Quy định các chỉ tiêu: CN- <= 0,7mg/l ; Zn <= 3mg/l
Tại Quy chuẩn Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước mặt cột B2 (nước phục vụ nhu cầu giao thông và các mục đích khác với yêu cầu chất lượng nước thấp)
Quy định các chỉ tiêu:
CN- < 0,02 mg/l ; Zn < 2mg/l
Như vậy quy định 2 chỉ tiêu này của nước mặt yêu cầu về chất lượng do BTNMT quy định chất lượng lại phải cao hơn nước phục vụ cho sinh hoạt ăn uống mà Bộ y tế quy định. Hai quy định này có mâu thuẫn nhau hay không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt quy định giá trị giới hạn của các thông số nhằm bảo vệ môi trường sống cho hệ sinh vật đồng thời đáp ứng các mục tiêu sử dụng nước cho các hoạt động của con người, trong đó có cả mục tiêu cấp nước sinh hoạt. Về thông số kẽm và CN trong nước mặt, quy định của Việt Nam (tương ứng là 2 và 0,02 như bạn đã dẫn) rộng rãi hơn quy định của Thailand (tương ứng là 1 và 0,005) và các kết quả quan trắc từ trước đến nay nay chưa thấy có báo cáo các thông số này vượt quy chuẩn.
 
QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống quy định giới hạn các thông số đối với nước dùng trong ăn uống và chế biến thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người.
Như vậy, có thể một thông số nào đó có thể rất độc với một số loài động thực vật sống trong nước nhưng ít độc với con người thì quy định ở QCVN 08:2008/BTNMT ngặt nghèo hơn, chặt chẽ hơn so với QCVN 01:2009/BYT là bình thường, không có gì mâu thuẫn.
 
Lên phía trên
Thời gian lưu mẫu nước thải công nghiệp từ lúc lấy mẫu đến lúc có kết quả là bao lâu?
Câu hỏi:
Hiện tôi đang công tác tại một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Cho tôi được hỏi:
Thời gian lưu mẫu nước thải công nghiệp từ lúc lấy mẫu đến lúc có kết quả là bao lâu. Theo TCVN 6663-3:2008, ISO 5667-3:2003,thời gian lưu mẫu phụ thuộc vào từng chỉ tiêu phân tích có thể kéo dài trong 1 ngày đến 1 tháng hoặc hơn với kỹ thuật bảo quản đúng quy định. Thời gian vừa qua, Đoàn thanh tra của Tổng cục Môi trường đến thanh tra đơn vị chúng tôi và sau 45 ngày mới trả kết quả phân tích mẫu. Cho tôi được hỏi việc trả kết quả vào thời gian này có đúng không và có làm doanh nghiệp chúng tôi mất quyền khiếu nại đối với phòng thí nghiệm hay không khi mẫu đối chứng đã hỏng?
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Thời gian lưu mẫu nước thải công nghiệp mà bạn đề cập trong câu hỏi theo TCVN 6663-3:2008, ISO 5667-3:2003 là đúng. Nội dung bạn đề cập liên quan đến kết quả của Đoàn thanh tra sau 45 ngày mới trả kết quả không có nghĩa là sau 45 ngày mới phân tích mẫu. Khi tiến hành thanh tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường luôn trưng cầu giám định một cơ quan độc lập có chức năng và năng lực để thực hiện việc lấy, bảo quản và phân tích mẫu môi trường theo đúng quy định. Theo quy định, kết quả phân tích mẫu môi trường chỉ là một phần của kết luận thanh tra về bảo vệ môi trường và thời hạn của một cuộc thanh tra là 45 ngày làm việc (khoảng hơn 2 tháng) kể từ ngày công bố quyết định đến khi kết thúc thanh tra thực tế tại đơn vị.
 
Do vậy, từ khi tiến hành thanh tra đến khi trả kết quả thanh tra (trong đó có kết quả phân tích mẫu môi trường) kéo dài 45 ngày làm việc là đúng quy định.
 
Lên phía trên
Phương pháp nào đo lưu lượng xả thải?
Câu hỏi:
Công ty tôi là công ty chế biến cao su, tôi được biết sau hệ thống xử lí nước thải thì phải lắp đặt đồng hồ để đo lưu lượng thải, nhưng cty tôi lắp đặt đồng hồ từ phi 114 đồng hồ chạy được một thời gian là ngưng, lưu lượng xả thải từ 800 -1000 m3/ngày đêm, Tôi kính mong Sở chỉ tôi phương pháp nào đo lưu lượng xả thải tốt hơn và dễ kiểm soát hơn đươc không? (Trừ Văn Thố, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
Trả lời:
Đối với câu hỏi của bạn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương xin trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 28 của Quy định Bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương ban hành kèm theo Quyết định số 63/2012/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương thì với lưu lượng nước thải từ 800 - 1.000 m3/ngày, Công ty phải lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng và máng đo thủy lực. Có nhiều loại đồng hồ để đo lưu lượng nước thải như đồng hồ cơ, đồng hồ từ, đồng hồ đo bằng sóng siêu âm…Đối với ngành chế biến mủ cao su, nước thải có tính ăn mòn kim loại cao nên sử dụng đồng hồ cơ dễ bị hư hỏng, Do vậy, Công ty nên sử dụng đồng hồ từ hoặc thiết bị đo lưu lượng nước thải bằng sóng siêu âm để đo lưu lượng nước thải . Ngoài ra, theo quy định Công ty phải xây dựng máng đo thủy lực. Các loại máng đo thủy lực phù hợp với lưu lượng nước thải của Công ty gồm: Máng đo Parshall, đập chắn cửa chữ nhật…
 
Lên phía trên
Kết quả thanh tra kiểm tra hoạt động khai thác tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước năm 2012 và 2013 trên đại bàn tỉnh Lai Châu?
Câu hỏi:
Xin quý Sở cho biết kết quả thanh tra kiểm tra hoạt động khai thác tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước năm 2012 và 2013. Qua thanh tra nổi lên vấn đề gì, các cấp chính quyền và ngành chức năng đã làm hết trách nhiệm của mình trong lĩnh vực này chưa? (Thang Văn Đường, Phong Thổ, Lai Châu)
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu trả lời như sau: 
 
Hoạt động quản lý tài nguyên đất, khoáng sản và tài nguyên nước trong những năm qua đã đạt được kết quả nhất định, được thể hiện trên kết quả hoạt động của công tác thanh tra, kiểm tra. Ngoài các cuộc kiểm tra liên ngành, việc kiểm tra phối hợp giữa Sở TNMT với các ngành khác, Sở Tài nguyên môi trường qua các năm đã thực hiện.
 
Năm 2012: 
 
+ Về lĩnh vực khoáng sản: Phối kết hợp với Đoàn kiểm tra của Tổng cục Địa chất kiểm tra hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh; tổ chức hàng chục cuộc kiểm tra và truy quyét nạn khai thác vàng sa khoáng trái phép.
 
+ Về lĩnh vực đất đai: Thanh tra, kiểm tra trên 50 mươi đơn vị, đã xử phạt 16 trường hợp với số tiền 16 triệu đồng.
 
+ Về lĩnh vực tài nguyên nước: Đôn đốc thực hiện kiến nghị về kết luận của Đoàn thanh tra hỗn hợp của Bộ TNMT về các dự án thủy điện trên địa bàn toàn tỉnh.
 
Năm 2013: 
 
+ Về lĩnh vực khoáng sản: Kiểm tra 5/8 huyện được kiểm tra về khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.
 
+ Về lĩnh vực đất đai: Xử lý vi phạm 5 tổ chức phạt tiền 40 triệu đồng; đề nghị UBND tỉnh thu hồi 20 dự án với diện tích 599,5ha...
 
Qua thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực tài nguyên môi trường cho thấy: Công tác quản lý về lĩnh vực tài nguyên môi trường của các ngành, các cấp đã được tăng cường, thể hiện ở việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên phục vụ cho việc phát triển kinh tế của tỉnh. 
 
Tuy nhiên một số tổ chức, cá nhân lợi dụng sự ưu đãi của nhà nước khi được giao đất và cho thuê đất chưa triển khai đúng tiến độ theo quy định của pháp luật, thời gian còn kéo dài; đối với lĩnh vực khoáng sản cát, sỏi... làm vật liệu xây dựng thông thường ở một số điểm có trữ lượng ít, không tập trung ở các sông, suối nên một số tổ chức, cá nhân còn lợi dụng để khai thác.
 
Công tác quản lý đất đai, khoáng sản và tài nguyên nước là rất phức tạp, các cơ quan quản lý đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm được giao./.
 
Lên phía trên
Chương trình MTQG ứng phó với biến đổi khí hậu đã làm được những gì và định hướng sắp tới như thế nào?
Câu hỏi:
Việt Nam là một trong những QG chịu tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu. Hiện nay, Chính phủ đã có Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Tôi muốn hỏi là Chương trình MTQG ứng phó với biến đổi khí hậu đã làm được những gì và định hướng sắp tới như thế nào?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH. Theo thống kê, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. BĐKH đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, đặc biệt là một phần đáng kể ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các vùng đất thấp đồng bằng ven biển bị ngập mặn do nước biển dâng, tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm. BĐKH làm gia tăng mức độ cạn kiệt tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước và suy thoái môi trường; làm tăng khả năng bị tổn thương, là nguy cơ làm chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội hoặc làm mất đi nhiều thành quả đã đạt được. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, ngày 02 tháng 12 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
 
Thời gian qua các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai Chương trình, một số kết quả chính đạt được là:
 
- Xác định được xu thế, diễn biến của một số yếu tố khí hậu; 
 
- Xây dựng, cập nhật và công bố kịch bản BĐKH, nước biển dâng;
 
- Xây dựng mô hình số độ cao độ chính xác cao phục vụ nghiên cứu, rà soát và xây dựng các kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; 
 
- Đánh giá được các tác động của BĐKH đến từng lĩnh vực, từng khu vực; đề xuất được các giải pháp ứng phó phù hợp và ban hành được KHHĐ ứng phó với BĐKH cho từng Bộ, ngành và từng địa phương;
- Nhận thức về BĐKH cũng như năng lực ứng phó đã được nâng lên, đặc biệt ở cấp trung ương và các tỉnh thí điểm của Chương trình;
 
- Vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng cao và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế được tăng cường.
 
- Một số mô hình thích ứng với BĐKH được triển khai thí điểm Quảng Nam và Bến Tre (Thông qua sự hỗ trợ của Chính phủ Đan Mạch) đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như nhà đa năng tránh bão lũ; kè, kênh thủy lợi kết hợp đường đường giao thông; nhà máy xử lý nước mặn thành nước ngọt, … đã mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và được sự đồng thuận, đánh giá cao của nhân dân.
 
- Đầu tư xây dựng mới 226 trạm đo mưa tự động cho khu vực miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai, lũ lụt gia tăng trong bối cảnh BĐKH.
 
Một số nhiệm vụ trọng tâm của các Bộ, ngành, địa phương cần triển khai trong thời gian tới đây:
 
1. Rà soát các văn bản liên quan đến biến đổi khí hậu (Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu,…) và Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của Bộ, ngành, địa phương đã được ban hành nhằm xác định các nội dung có liên quan cần điều chỉnh, bổ sung, bao gồm:
 
- Cụ thể hóa các thách thức và cơ hội của biến đổi khí hậu đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực.
 
- Cụ thể hóa quan điểm, cách tiếp cận và định hướng ưu tiên trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực.
 
- Cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp tổ chức thực hiện, trong đó: 
 
+ Xác định các tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến quá trình phát triển của ngành, lĩnh vực và địa phương trên cơ sở kết quả đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực do các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trong giai đoạn 2010-2013.
 
+ Xác định mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu của của Bộ, ngành, địa phương mình.
 
+ Lựa chọn các giải pháp trọng tâm để ứng phó với biến đổi khí hậu và đưa ra danh mục các nhiệm vụ, dự án cụ thể nhằm ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu (xếp theo thứ tự ưu tiên).
 
+ Xây dựng lộ trình triển khai và nguồn lực thực hiện Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu theo từng giai đoạn (đến năm 2015, 2016 - 2020 và sau năm 2020), gồm bộ máy tổ chức, nhân lực, nguồn vốn, bao gồm vốn trung ương, vốn địa phương, vốn huy động tài trợ quốc tế, vốn xã hội hóa (bao gồm cả vốn huy động từ khu vực tư nhân), vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác… 
 
2. Rà soát các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của quốc gia, ngành, vùng, địa phương (do Bộ, ngành, địa phương ban hành hoặc chủ trì trình các cấp có thẩm quyền ban hành) nhằm lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu vào các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển đã ban hành cũng như các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển có kế hoạch ban hành.
 
Lên phía trên
Quy định về trình tự trám lấp giếng khi không sử dụng?
Câu hỏi:
Gia đình tôi có một cái giếng đã từ nhiều năm nay. Do thời gian gần đây nước giếng bẩn và tanh, gia đình tôi quyết định lấp đi. Thay vào đó chúng tôi có dự định đào một cái mới. Nhưng nghe mọi người nói nếu gia đình tôi làm như vậy là vi phạm pháp luật. Tôi nghĩ đào giếng trên đất nhà mình thì có gì sai đâu. Rất mong quý sở giải đáp giúp? (Mạc Văn Bình, tp Lai Châu, Lai Châu)
Trả lời:
Sở Tài nguyên và Môi trường Lai Châu trả lời:
1. Giếng bẩn và tanh, gia đình ông quyết định lấp đi là đúng với quy định của pháp luật về tài nguyên nước (được quy định tại điểm d, khoản 1, điều 4 và khoản 4 điều 9, Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 04/9/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường). Tuy nhiên, trong quá trình lấp giếng gia đình ông phải đảm bảo tuân thủ các quy định sau:
 
- Thông báo về thời gian, loại vật liệu sử dụng để trám lấp tới UBND cấp xã, phường. Thời gian thông báo chậm nhất là mười (10) ngày làm việc trước khi trám lấp giếng. UBND cấp xã, phường có trách nhiệm thông báo ý kiến của mình cho gia đình ông về nội dung, phương án trám lấp. 
 
- Trám lấp giếng phải theo quy định tại khoản 3, 4, Điều 10 và Điều 19, Quyết định số 14//2007/QĐ-BTNMT ngày 04/9/2007, cụ thể: 
 
+ Vật liệu sử dụng để trám lấp là vật liệu tự nhiên, có tính thấm nước kém hơn hoặc tương đương với tính thấm nước của các lớp đất đá xung quanh giếng đào;
 
+ Việc thi công trám lấp phải thực hiện theo từng đoạn; vật liệu được đổ từ từ, theo từng lớp và phải đầm, nện bằng dụng cụ thích hợp; ít nhất 1m trên cùng của giếng phải được trám lấp bằng sét tự nhiên hoặc vật liệu khác có tính chất tương đương.
 
- Thông báo kết quả trám lấp: Sau khi hoàn thành công việc trám lấp, chủ giếng lập biên bản trám lấp giếng (theo Mẫu số 02 kèm theo Quyết định số 14) và gửi tới UBND cấp xã, phường.
 
2. Gia đình ông Bình có dự định đào một cái giếng mới. 
 
- Theo quy định tại điểm d, đ, Khoản 1, Điều 7, Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ nước dưới đất, gia đình ông ở thành phố Lai Châu, có giếng cũ bị ô nhiễm. Như vậy, nguồn nước ngầm trong phạm vi khu vực nhà ông thuộc vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất và ông đang có dự định đào một giếng mới tại đó.
 
- Câu hỏi của ông không nêu rõ quy mô, mục đích khai thác, sử dụng nước nên theo khoản 2, Điều 7, Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; điểm a, khoản 2, Điều 16, nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước. Sở Tài nguyên và Môi trường đưa ra trường hợp sau để ông lựa chọn:
 
+ Được phép đào giếng mới có lưu lượng khai thác không quá10m 3/ngày đêm và đảm bảo tổng lượng nước dưới đất khai thác nhỏ hơn trữ lượng có thể khai thác; không làm tăng nguy cơ gây sụt lún, ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất trong vùng hoặc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng khai thác nước dưới đất của các công trình khai thác nước dưới đất liền kề hiện có. Phải thông báo tới UBND cấp xã, phường; đăng ký với Phòng Tài nguyên Môi trường cấp huyện, thành phố.
 
+ Được phép đào giếng mới có lưu lượng khai thác từ 10m3/ngày đêm trở lên. Trước khi đào giếng thì phải được UBND tỉnh hoặc Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác sử dụng nước dưới đất (khai thác từ 10 đến dưới 3.000m3/ngày đêm thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh cấp, từ 3.000m3/ngày đêm trở lên thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và môi trường cấp phép.
 
Lên phía trên
Gia đình tôi muốn khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và rửa xe gắn máy thì có phải xin phép không? Xin tại cơ quan nào?
Câu hỏi:
Gia đình tôi muốn khoan giếng để lấy nước để sinh hoạt và rửa xe gắn máy thì có phải xin phép không? Xin tại cơ quan nào?
Trả lời:

Sở TN&MT Đồng Nai trả lời:
 
Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 44 của Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc Hội thì khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt của hộ gia đình thuộc trường hợp không phải đăng ký, không phải xin phép. Nhưng đối với trường hợp ông Nguyễn Văn Xuân có nhu cầu khai thác nước cho rửa xe gắn máy (mang tính chất kinh doanh, dịch vụ) thì căn cứ điểm a, khoản 2, điều 16 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước trường hợp khai thác với quy mô trên 10m3/ngày đêm thì phải đăng ký hoặc xin phép và cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh cấp phép.
 
Tuy nhiên, căn cứ văn bản số 6234/UBND-CNN ngày 5/8/2008 về việc xử lý trám lấp các giếng khoan trong khu vực đã có nước máy của UBND tỉnh Đồng Nai, trong đó có nội dung không cấp mới các loại giấy phép thăm dò, khai thác nước dưới đất cho các tổ chức, hộ kinh doanh nằm cách đường ống cấp nước trong phạm vi bán kính nhỏ hơn hoặc bằng 200m. Do đó, nếu trường hợp khu vực điểm kinh doanh rửa xe của ông Nguyễn Văn Xuân đã có nước máy thì sẽ không được cấp phép (trường hợp đã có giếng thì chỉ sử dụng cho sinh hoạt của hộ gia đình không phục vụ cho việc kinh doanh, dịch vụ).
 
Lên phía trên
Trách nhiệm của cơ quan quản lý và cấp phép khai thác tài nguyên
Câu hỏi:
Hiện tượng khoan giếng khai thác nước do dân tự tiến hành khoan gây nên sụt lún nền đất làm sập nhà cửa và các công trình dân dụng thời gian qua diễn ra nhiều lần ở các huyện Mỹ Đức, Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Với trách nhiệm quản lý tài nguyên và cấp phép khai thác tài nguyên do Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chịu trách nhiệm thì để diễn ra nhiều lần như vậy và làm ảnh hưởng đến đời sống nhiều các hộ dân khác chúng tôi có thể kiện và quy trách nhiệm cho cơ quan quản lý được không? Và nếu kiện thì thủ tục pháp lý cần làm những thủ tục gì?
Trả lời:
 
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Hiện tượng sụt, lún đất có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Một trong những nguyên nhân có thể gây ra hiện tượng sụt, lún là do khai thác nước dưới đất quá mức. Để xác định nguyên nhân sụt, lún là do cấu tạo địa chất hay do khai thác nước dưới đất gây ra cần phải có điều tra, đánh giá một cách chi tiết và đầy đủ.
 
Do đó, đề nghị bạn kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội tổ chức điều tra, đánh giá để xác định nguyên nhân gây sụt lún cho khu vực Mỹ Đức, Quốc Oai
 
Lên phía trên
Chuyển đổi khai thác nước ngầm sang khai thác nước mặt
Câu hỏi:
Các DN chúng tôi được phép khai thác nước ngầm độ sâu 350 - 400m để cung cấp nước sinh hoạt tại Vĩnh Long đã nhiều năm qua. Lưu lượng ổn định, chất lượng đảm bảo theo quy định ban hành. Hiện nay chính quyền địa phương yêu cầu các DN chúng tôi chuyển đổi từ khai thác nước ngầm sang nước mặt. Nếu không thực hiện thì đơn vị cấp nước khác sẽ thực hiện trong vùng cấp nước của chúng tôi. Yêu cầu của chính quyền địa phương đúng theo quy định không? Nếu đúng thì theo quy định nào?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Việc hạn chế khai thác nước dưới đất là một trong những biện pháp để phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước ngầm và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Hiện nay, Luật tài nguyên nước đã quy định cụ thể các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất tại Khoản 4 và quy định các hình thức hạn chế khai thác nước dưới đất tại Khoản 5 của Điều 52. Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 71 của Luật tài nguytên nước giao Ủy ban nhân nhân cấp tỉnh khoang định cụ thể vùng hạn chế khai thác nước dưới đất.
 
Lên phía trên
Quy chuẩn nào để phân tích khi làm hồ sơ cấp phép khai thác nước sinh hoạt
Câu hỏi:
Trong hồ sơ khai thác nước dưới đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tôi yêu cầu phải có kết quả phân tích chất lượng nguồn nước ngầm theo quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT. Theo QC này có tất cả 26 chỉ tiêu; trong đó có 2 chỉ tiêu về phóng xạ alpha và beta rất khó thực hiện và đắt tiền, các phòng xét nghiệm ở miền Nam đều không thực hiện được kiểm nghiệm chỉ tiêu này ngoại trừ Viện hạt nhân Đà Lạt. Điều này gây rất nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian khi xét nghiệm. Trong khi đó hầu hết mục đích khai thác là để cung cấp nước sinh hoạt. Theo tôi biết lẽ ra chỉ yêu cầu phân tích nước theo mục đích sử dụng, tức là theo quy chuẩn 02:2009/BYT hoặc 01:2009/BYT của Bộ Y tế.
Xin vui lòng cho chúng tôi biết ý kiến phải dùng quy chuẩn nào để phân tích khi làm hồ sơ cấp phép khai thác? (Nguyễn Long Hải,
Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT nông thôn Long An)
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Trả lời: Việc cấp phép khai thác sử dụng nước dưới đất phải xem xét đánh giá cả về số lượng và chất lượng nguồn nước khai thác. Hiện nay, đánh giá chất lượng nguồn nước dưới đất căn cứ vào QCVN 09:2008/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường (gồm 26 chỉ tiêu). Vì vậy, tùy vào đặc điểm nguồn nước dưới đất ở từng khu vực và tình trạng môi trường xung quanh khu vực khai thác để lựa chọn các thông số phân tích chất lượng nước dưới đất cho phù hợp.

Ngoài ra, căn cứ vào mục đích sử dụng nước còn phải phân tích các chỉ tiêu khác cho phù hợp với mục đích sử dụng. Đối với cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt phải phân tích các chỉ tiêu theo Quy chuẩn 02:2009/BYT hoặc 01:2009/BYT của Bộ Y tế, trong đó cấp cho ăn uống có 109 chỉ tiêu, trong đó có cả các chỉ tiêu phân tích hoạt độ phóng xạ alpha và beta.
Lên phía trên
Cấp phép cho các giếng nằm trên đất thổ
Câu hỏi:
Ở tỉnh tôi, quá khứ để lại có hàng ngàn giếng công suất nhỏ đường kính Ø49, Ø60 phục vụ cấp nước sinh hoạt xây dựng trên đất lúa. Nay rất nhiều trạm cấp nước nhỏ này muốn lập lại hồ sơ khai thác thì không được giải quyết vì yêu cầu giếng phải nằm trên đất thổ. Vậy xin hỏi có quy định nào về việc giếng phải nằm trên đất thổ mới được cấp phép? và nếu không đúng quy định hiện hành thì hướng để xử lý các tồn tại nêu trên thế nào để các trạm cấp nước, các giếng trước đây được cấp phép?

Nguyễn Long Hải.
Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT nông thôn Long An
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Hiện nay, không có quy định nào là giếng khoan phải nằm trên đất thổ cư mới được cấp phép.
Lên phía trên
Nghiệm thu và xin phép xả thải
Câu hỏi:
Hien tai Cty Toi co mot he thong XLNT voi cong suat 15m3 ngay dem, cho toi hoi: Neu dang ky nghiem thu hoac xin cap phep xa thai thi lien he tai : Phong TNMT hay So TNMT Tran trong cam on?

PHAN VAN KE. kephan72@yahoo.com.vn
Trả lời:
Sở TNMT TP. Hồ Chí Minh trả lời: 

Hiện nay cấp phép xả thải với quy mô của Công ty Ông thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường. Để xin cấp phép xả thải, Công ty làm hồ sơ và nộp tại Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM để được xem xét cấp phép. Quy trình thủ tục cấp phép xả thải ông/bà có thể tham khảo tại trang web:http://donre.hochiminhcity.gov.vn vào mục hướng dẫn thủ tục .
Lên phía trên
Cấp phép nước dưới đất
Câu hỏi:
Gia đình tôi khai thác nước dưới đất có độ mặn cao để sản xuất muối, công suất là 150m3/ngay đêm.
Xin hỏi tôi có phải xin phép không? Nếu phải xin phép thì cơ quan nào cấp? và có bi khống chế về công suất khai thác không?

Võ Văn Hùng (62 tuổi )
Địa chỉ: Xã Vĩnh Hảo, Tuy Phong
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Theo quy định tại Điều 44 của Luật tài nguyên nước năm 2012 và Điều 16 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thì hành một số điều của Luật tài nguyên nước thì tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất với quy mô từ 10 m3/ngày đêm trở lên cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải xin cấp giấy phép. 

Vì vậy, trường hợp khai thác nước dưới đất của Ông  thuộc diện phải có giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp. Về công suất khai thác sẽ được cơ quan thẩm định hồ sơ cấp phép xem xét cụ thể trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp pơhép của Ông và cơ quan cấp phép (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định khi cấp giấy phép.
Lên phía trên
Ô nhiễm Môi trường nước ở Hạ Long
Câu hỏi:
Từ trước đến nay, tất cả các nguồn nước thải lẫn dầu ( Là một loại chất thải nguy hại ) cả ở trên bờ và dưới biển ở vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long,không qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam mà vẫn được các chủ nguồn thải xả thẳng ra môi trường và xuống biển. Dẫn đến hiện nay, vùng biển Vịnh Hạ Long đã bị ô nhiễm dầu nghiêm trọng, các rạn san hô trong vùng đã bị chết gần hết do ô nhiễm dầu ( Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Tài nguyên và môi trường Biển Việt Nạm, năm 2011 ). Hiện nay vẫ chưa có biện pháp khắc phục. Tôi xin hỏi: Để xảy ra tình trạng này, có trách nhiệm của cơ quan quản lý Môi trường không?. Tại sao đến nay vẫn chưa có giả pháp nào để khắc phục?
Hà Thế Tiến (57 tuổi )
T5-K7-P. Bãi Cháy-TP Hạ Long-Quảng Ninh
Trả lời:
Với nội dung câu hỏi của ông Hà Thế Tiến – Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:
 
Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh đã có văn bản trả lời số 1834/TNMT-BVMT, ngày 24/6/2013; Sở Giao thông Vận tải Quảng Ninh đã có văn bản trả lời số 4507/SGTVT-QVVT ngày 15/8/2013 và Bộ Giao thông Vận tải có văn bản trả lời số 9750/BGTVT-MT ngày 18/9/2013 trả lời câu hỏi của ông.
 
Mong ông vui lòng nghiên cứu kỹ các văn bản nêu trên./.
Lên phía trên
Lập báo cáo xả thải của công ty
Câu hỏi:
Xin Bộ cho tôi hỏi: Khi lập báo cáo xả thải vào nguồn nước của 1 đơn vị, quy định nào phải phân tích tất cả các chỉ tiêu theo QCVN. Ví dụ như khi lập báo cáo xả thải vào nguồn nước cho 1 Công ty may mặc thì việc phân tích mẫu nước thải cho tất cả các chỉ tiêu theo QCVN 40:2010/BTNMT thì có 1 số chỉ tiêu sẽ gây lãng phí cho Công ty như Tổng xianua, Tổng phenol, …?

Đoàn Minh Long , 369 Quốc Lộ 1, f4, Tân An , Long An
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời

Khi lập Hồ sơ đề nghị cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, theo qui định đối với trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước phải có kết quả phân tích chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý (thời điểm lấy mẫu không quá 03 tháng trước thời điểm nộp Hồ sơ). Đơn vị đề nghị cấp phép chịu trách nhiệm khai báo các chỉ tiêu ô nhiễm có trong nước thải và phân tích các chỉ tiêu này. Trường hợp ngành nghề sản xuất đã có ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải riêng cho ngành nghề đó thì các chỉ tiêu phân tích là các chỉ tiêu có trong Quy chuẩn hiện hành. Đối với l công ty sản xuất thuộc loại hình dệt may sẽ phải phân tích các chỉ tiêu theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải Dệt may QCVN 13:2008/BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 khi lập hồ sơ báo cáo xả nước thải vào nguồn nước
Lên phía trên
Quy trình lấy mẩu nước thải của nhà máy sản xuất nước đá.
Câu hỏi:
Quy trình lấy mẩu nước thải của nhà máy sản xuất nước đá?

Huynh Thi Tien , Huyện An Minh, Kiên Giang
Trả lời:
Sở TNMT Kiên Giang trả lời: 

1. Quy trình lấy mẫu nước thải của nhà máy sản xuất nước đá tuân theo TCVN 5999:1995 - Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu nước thải, bao gồm:

+ Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị lấy mẫu.

+ Chọn vị trí lấy mẫu: điểm thải cuối trước khi thải ra môi trường.

+ Chỉ tiêu lấy mẫu (theo QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp).

+ Tiến hành lấy mẫu.

2. Bảo quản mẫu theo TCVN 6663-3:2008 - Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.

3. Vận chuyển về phòng thí nghiệm và phân tích mẫu, cho kết quả.
Lên phía trên
Ứng phó với biến đổi khí hậu
Câu hỏi:
Câu hỏi về lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu
Lũ quét ở các tỉnh miền núi phía Bắc xảy ra liên tiếp trong những năm gần đây có phải do biến đổi khí hậu hay không? làm thế nào để hạn chế lũ quét và tác hại của nó?

Trần Hữu Hùng, Cốc Lếu, Lào Cai
Trả lời:
Chào bạn, về câu hỏi này, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Theo các kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, biến đổi khí hậu làm gia tăng lượng mưa trong mùa mưa và làm giảm lượng mưa trong mùa khô, do đó khả năng xảy ra lũ quét tăng lên trong thời gian gần đây một phần là do biến đổi khí hậu.

Một nguyên nhân đáng lưu ý là việc chặt phá rừng đầu nguồn, việc khai thác khoáng sản, việc khai thác cát bừa bãi, không theo quy hoạch cũng làm gia tăng lũ quét ở các tỉnh miền núi.

Để hạn chế lũ quét và tác động của lũ quét đến tính mạng và tài sản của người dân, cần đồng bộ triển khai các hoạt động sau đây:

- Bảo vệ và kiểm soát nghiêm ngặt các đai rừng phòng hộ đầu nguồn;
- Khai thác hợp lý, hợp pháp tài nguyên;
- Có chế tài xử phạt nghiêm minh các tổ chức, cá nhân chặt phá rừng, khai thác bừa bãi tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước,… 
- Đẩy mạnh việc trồng, phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm tăng khả năng giữ nước, chống xói mòn, rửa trôi, nâng cao độ che phủ, giảm thiệt hại do lũ quét, sạt lở đất, bảo vệ các công trình hạ lưu, điều hòa khí hậu, duy trì và phát triển sinh kế cho cộng đồng, cải tạo môi trường sinh thái. 
- Tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân về tác động của biến đổi khí hậu cũng như trách nhiệm và quyền lợi của người dân trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn.
- Nghiên cứu, phân vùng nguy cơ có lũ quét.
- Xây dựng các phương án sơ tán dân ra khỏi những vùng có nguy cơ lũ quét cao
Lên phía trên
Ô nhiễm môi trường sông
Câu hỏi:
Tôi xin hỏi một vụ việc cụ thể như sau:
Em gái tôi cư trú tại thôn Võng Phan, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên có thầu dài hạn gần 400 mét vuông mặt nước để thả cá nhưng bị hai gia đình các ông Vũ Văn Lộ, và Nguyễn Văn Hiệu bên cạnh nuôi lợn công nghiệp nhưng thả chất thải và phân lợn chưa qua xử lý xuông ao của em tôi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vĩ thế, cá trong ao chết hàng loạt, bà con xung quanh phải chịu cảnh ô nhiễm môi trường sông.
Vậy tôi xin hỏi:
1- Sự việc trên có vi phạm Luật môi trường không? Thể hiện ở văn bản quy phạm pháp luật nào?
2- Sự việc này không hòa giải được, tôi muốn đề nghị cơ quan công quyền nào giải quyết?

Vũ Tiến Kỳ (70 tuổi )
Số nhà 27, ngõ 6 Phùng Chí Kiên, phường An Tảo, thành phố Hưng Yên
Trả lời:
Sở TNMT Hưng Yên trả lời:

1. Sự việc trên là vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cụ thể:

- Hành vi thải chất thải trực tiếp không qua xử lý là hành vi bị nghiêm cấm quy định Khoản 5, Điều 7, Luật Bảo vệ môi trường 2005 
- Chưa có công trình đảm bảo vệ sinh và an toàn đối với sinh hoạt của người dân vi phạm điểm đ, Khoản 1, Điều 53, Luật Bảo vệ môi trường 2005

2. Hình thức xử lý

Các hành vi vi phạm trên sẽ bị xử lý theo Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều 13 NĐ 17 9/2013/NĐ-CP
Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 6, và phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Khoản 7 Điều 13 NĐ 179/2013/NĐ-CP

3. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 122 và điểm đ, Khoản 1 Điều 126 của Luật Bảo vệ môi trường, vụ việc này trách nhiệm thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND xã Tống Trân. 
Lên phía trên
Khai thác nước dưới đất để sản xuất muối
Câu hỏi:
Gia đình tôi khai thác nước dưới đất có độ mặn cao để sản xuất muối, công suất là 150m3/ngay đêm.
Xin hỏi tôi có phải xin phép không? Nếu phải xin phép thì cơ quan nào cấp? và có bi khống chế về công suất khai thác không?

Võ Văn Hùng , Xã Vĩnh Hảo, Tuy Phong
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời

Trả lời: Theo quy định tại Điều 44 của Luật tài nguyên nước năm 2012 và Điều 16 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thì hành một số điều của Luật tài nguyên nước thì tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất với quy mô từ 10 m3/ngày đêm trở lên cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải xin cấp giấy phép. 

Vì vậy, trường hợp khai thác nước dưới đất của Ông  thuộc diện phải có giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp. Về công suất khai thác sẽ được cơ quan thẩm định hồ sơ cấp phép xem xét cụ thể trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp phép của Ông và cơ quan cấp phép (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định khi cấp giấy phép.
Lên phía trên
Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất
Câu hỏi:
Tôi là một người lao động bình thường ở vùng sâu, vùng xa. Từ năm 2012 tôi đã mua thiết bị máy móc để hành nghề khoan nước dưới đất nhưng do không nắm được quy định của pháp luật nên tôi chưa làm thủ tục để xin cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất và tôi đã bị xử phạt. Hiện nay, tôi rất muốn làm thủ tục để xin cấp giấy phép hành nghề. Tuy nhiên, tôi không có đầy đủ các bằng cấp theo yêu cầu. Vậy tôi có thể kí hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thuê nhân công (giữa 2 cá nhân) với người có đủ bằng cấp theo quy định để xin cấp giấy phép hành nghề mang tên tôi được không.Và thành phần hồ sơ trong trường hợp này như thế nào, tôi phải nộp về đâu?
Rất mong nhận được sự quan tâm của quý cơ quan!
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Theo quy định bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào đáp ứng các điều kiện tại Điều 6 của Quyết định số 17/ 2006/QD-BTNMT thì sẽ được cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.

Trường hợp Bạn nêu, nếu Bạn không đáp ứng điều kiện chuyên môn theo quy định thì có thể ký hợp đồng với người khác đủ điều kiện về kinh nghiệm, chuyên môn theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 6 của Quyết định nêu trên.

Về thành phần hồ sơ, nơi nộp hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 13 của Quyết định nêu trên
Lên phía trên
Điều kiện về năng lực đối với tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước cần những điều kiện nào ?
Câu hỏi:
Hãy cho biết, Điều kiện về năng lực đối với tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước cần những điều kiện nào ?
Trả lời:

Trả lời:

Theo Điều 5  Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường  có quy định cụ thể về điều kiện năng lực đối với tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước:
1. Tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:
a) Quyết định thành lập tổ chức của cơ quan có thẩm quyền, trong đó có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước và các hoạt động khác về tài nguyên nước;
b) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền cấp.
2. Có đội ngũ cán bộ chuyên môn tham gia thực hiện đề án, dự án, báo cáo đáp ứng điều kiện sau đây:
a) Đối với đề án, dự án điều tra cơ bản, lập quy hoạch tài nguyên nước: có cơ cấu chuyên môn, kinh nghiệm công tác đáp ứng quy định tại Điều 6, người được giao phụ trách kỹ thuật đáp ứng quy định tại Điều 7 của Nghị định này;
b) Đối với lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước: Có cơ cấu chuyên môn, kinh nghiệm công tác đáp ứng quy định tại Điều 8 của Nghị định này.
3. Cá nhân thuộc đội ngũ cán bộ chuyên môn quy định tại khoản 2 Điều này đáp ứng các điều kiện sau:
a) Là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài có giấy phép lao động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Có văn bằng đào tạo trình độ từ đại học trở lên, chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ được giao. Các văn bằng này được các cơ sở đào tạo của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp theo quy định của pháp luật;
c) Có quyết định tuyển dụng hoặc có hợp đồng lao động với tổ chức theo quy định của pháp luật. Trường hợp hợp đồng lao động là loại xác định thời hạn thì tại thời điểm lập hồ sơ chứng minh năng lực hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên nước, thời hạn hiệu lực của hợp đồng lao động phải còn ít nhất 06 tháng.
4. Có máy móc, thiết bị chuyên dùng đáp ứng quy định tại Điều 10 của Nghị định này. Trường hợp máy móc, thiết bị không thuộc sở hữu của tổ chức thì phải có hợp đồng thuê với tổ chức, cá nhân khác.
5. Trường hợp hạng mục công việc của đề án, dự án, báo cáo có yêu cầu điều kiện khi thực hiện thì tổ chức phải đáp ứng các điều kiện đó hoặc có hợp đồng liên doanh, liên kết hoặc hợp đồng thuê với tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện để thực hiện.
Lên phía trên
Nghiêm cấm các hành thức xả thải vào lòng đất thông qua giếng khoan, giếng đào và các hình thức đưa nước thải vào lòng đất
Câu hỏi:
Theo khoản 3 Điều 9 của Luật Tài nguyên nước năm 2012 có đoạn viết: ‘‘Nghiêm cấm các hành thức xả thải vào lòng đất thông qua giếng khoan, giếng đào và các hình thức đưa nước thải vào lòng đất’’. Ở đây Luật chỉ nói nước thải chung mà chưa làm rõ là nước thải đã qua xử lý đạt các tiêu chuẩn/quy chuẩn hay nước thải chưa qua xử lý nên gây khó khăn trong công tác quản lý. Ví dụ: tại địa phương, một số khu du lịch ven biển nước thải sinh hoạt sau xử lý đạt cột B, QCVN 14:2008/BTNMT được thu gom và cho thấm rút hoặc tái sử dụng để tưới cây (đây cũng là hình thức thấm rút) theo quy định trên là không đúng vì đây là hình thức đưa nước thải trực tiếp xuống môi trường đất. Nhưng lại đúng theo tinh thần các Điều tại Mục 1 – Chương IV về Sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và Nghị định số 54/2015/NĐ-CP Quy định về ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Trả lời:

1) Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Luật Tài nguyên nước: Nghiêm cấm các hành thức xả thải vào lòng đất thông qua giếng khoan, giếng đào và các hình thức đưa nước thải vào lòng đất’’. Vì vậy, việc xả nước thải chưa qua xử lý hoặc sau khi đã được xử lý đạt quy chuẩn, kể cả loại A, vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái quy định của pháp luật về tài nguyên nước.
 

2) Đối với việc tái sử dụng nước thải cho mục đích tưới cây, vấn đề này Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có cuộc họp với UBND tỉnh Bình Thuận và các bên liên quan và Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển đã kết luận cụ thể tại Thông báo số 86/TB-BTNMT ngày 28 tháng 9 năm 2016. Theo đó:

- Chỉ xem xét cho phép tái sử dụng nước thải sinh hoạt đã được xử lý bảo đảm đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt cột A (QCVN 14: 2008/BTNMT) và bảo đảm đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước phù hợp cho mục đích tưới cột B1 (QCVN 08-MT:2015/BTNMT) để tưới cây trong phạm vi của chính cơ sở đó.

- Yêu cầu các cơ sở xả nước thải có nhu cầu tái sử dụng nước để tưới cây xây dựng phương án xử lý nước thải đạt yêu cầu nêu trên. Đồng thời, xây dựng phương án tái sử dụng nước để tưới cây, trong đó nêu rõ yêu cầu sử dụng nước để tưới cây cụ thể trong từng thời gian, cân bằng lượng nước tưới với lượng nước thải phát sinh hằng ngày, có phương án tiêu thoát hoặc vận chuyển lượng nước thải còn dư để xả vào các nguồn nước mặt, nước biển, không được xả vào lòng đất dưới bất kỳ hình thức nào. Phương án tái sử dụng nước phải được thẩm định và kiểm soát chặt chẽ, tránh việc lợi dụng tái sử dụng nước để đưa nước thải vào các tầng chứa nước dưới đất.

Về nguyên tắc, việc tưới cây thực hiện theo thời vụ và tùy thuộc tình hình thời tiết nên không có trường hợp tái sử dụng toàn bộ nước thải trong mọi thời gian. Vì vậy, để kiểm soát chặt chẽ hoạt động này, cần yêu cầu các cơ sở xả thải có nhu cầu tái sử dụng nước để tưới cây lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải, trong đó phải có phương án tái sử dụng nước nêu trên để thẩm định, cấp giấy phép xả nước thải theo quy định, trong đó ghi rõ các yêu cầu cụ thể đối với hoạt động tái sử dụng nước.

Lên phía trên
Cấp giấy phép khai thác sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Hiện nay, Công ty chúng tôi khai thác cát trên sông La Ngà quy trình khai thác cát như sau: Máy bơm hút nước và cát trên sông. Sau khi tách nước và cát. Nước sẽ đưa trực tiếp vào sông tại vị trí khai thác với lưu lượng nước xả là 10.000 m3/ngày đêm. Vậy xin hỏi Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp này có làm giấy phép khai thác nước mặt và giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Trường hợp quý vi nêu không phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác nước , xả nước thải vào nguồn nước. Tuy nhiên, việc khai thác cát trên sông phải tuân thủ các yêu cầu về phòng, chống sạt lở bờ, bãi sông theo quy định tại Điều 63 của Luật TNN.
Lên phía trên
Trả lại Giấy phép khai thác nước ngầm
Câu hỏi:
Trước đây, chúng tôi đã xin Giấy phép được khai thác nước ngầm để phục vụ sản xuất. Giấy phép này có thời hạn đến năm 2017. Nay, do nhu cầu sản xuất chúng tôi không cần dùng đến Giấy phép này nữa. Xin hỏi, chúng tôi có thể trả lại Giấy phép hay không? Cơ quan nào tiếp nhận hồ sơ này?
Trả lời:
Trả lời:

Theo Điều 26, Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định về trả lại Giấy phép, chấm dứt hiệu lực của Giấy phép như sau:

“1. Giấy phép tài nguyên nước đã được cấp nhưng chủ Giấy phép không sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng tiếp thì có quyền trả lại cho cơ quan cấp Giấy phép và thông báo lý do.

2. Giấy phép bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

a) Giấy phép bị thu hồi;

b) Giấy phép đã hết hạn;

c) Giấy phép đã được trả lại.

3. Khi Giấy phép bị chấm dứt hiệu lực, các quyền liên quan đến Giấy phép cũng chấm dứt.”

Theo quy định, cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, Giấy phép (sau đây gọi chung là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) bao gồm: Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, Giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Lên phía trên
Lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước ?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, việc lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 2, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước, Việc lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nhân dân trên địa bàn theo quy định tại Điều 6 của Luật tài nguyên nước được thực hiện như sau:

1. Các dự án có xây dựng công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lấy ý kiến bao gồm:
a) Công trình hồ, đập có tổng dung tích từ 500 triệu m3 trở lên; công trình khai thác, sử dụng nước mặt với lưu lượng từ 10 m3/giây trở lên;
b) Công trình chuyển nước giữa các nguồn nước;
c) Công trình hồ, đập làm gián đoạn dòng chảy tự nhiên của sông, suối trên một đoạn có chiều dài từ một (01) km trở lên;
d) Công trình xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 10.000 m3/ngày đêm trở lên;
đ) Công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất có lưu lượng từ 12.000 m3/ngày đêm trở lên;
e) Các trường hợp quy định tại Khoản này nếu có yếu tố bí mật quốc gia thì không phải thực hiện việc lấy ý kiến.

2. Thời điểm lấy ý kiến:
a) Trong quá trình lập dự án đầu tư đối với trường hợp quy định tại Điểm a, b, c và Điểm d Khoản 1 Điều này;
b) Trong quá trình thăm dò đối với công trình khai thác nước dưới đất quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này.

3. Nội dung thông tin cung cấp để tổ chức lấy ý kiến bao gồm:
a) Thuyết minh và thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu khả thi) kèm theo tờ trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định dự án;
b) Kế hoạch triển khai xây dựng công trình;
c) Tiến độ xây dựng công trình;
d) Các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước, đảm bảo nước cho các đối tượng sử dụng ở thượng và hạ lưu công trình trong quá trình xây dựng, vận hành công trình, thời gian công trình không vận hành;
đ) Các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này;
e) Các số liệu, tài liệu khác liên quan đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.

4. Cơ quan tổ chức lấy ý kiến:
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi nguồn nước nội tỉnh chảy qua, tổ chức lấy ý kiến đối với công trình khai thác, sử dụng nguồn nước nội tỉnh, xả nước thải vào nguồn nước nội tỉnh quy định tại Điểm a, c và Điểm d Khoản 1 Điều này;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi nguồn nước liên tỉnh chảy qua, tổ chức lấy ý kiến đối với công trình khai thác, sử dụng nguồn nước liên tỉnh, xả nước thải vào nguồn nước liên tỉnh quy định tại Điểm a, c và Điểm d Khoản 1 Điều này;
c) Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi có nguồn nước nội tỉnh bị chuyển nước, tổ chức lấy ý kiến đối với công trình chuyển nước từ nguồn nước nội tỉnh;
d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có nguồn nước liên tỉnh bị chuyển nước chảy qua, tổ chức lấy ý kiến đối với công trình chuyển nước từ nguồn nước liên tỉnh;
đ) Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi dự kiến bố trí công trình khai thác nước dưới đất, tổ chức lấy ý kiến đối với công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này.

5. Trình tự lấy ý kiến:
a) Chủ dự án gửi các tài liệu, nội dung quy định tại Khoản 3 Điều này đến Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, đối với trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến là Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường, đối với trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến là Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xin ý kiến của chủ dự án, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức các buổi làm việc, cuộc họp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để cho ý kiến về công trình dự kiến xây dựng hoặc đối thoại trực tiếp với chủ dự án; tổng hợp ý kiến trình Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi cho chủ dự án;
c) Trường hợp cơ quan tổ chức lấy ý kiến là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong thời hạn bốn mươi (40) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xin ý kiến của chủ dự án, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các buổi làm việc, cuộc họp hoặc đối thoại trực tiếp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để cho ý kiến về công trình dự kiến xây dựng; tổng hợp ý kiến trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi cho chủ dự án;
d) Ngoài các nội dung thông tin quy định tại Khoản 3 Điều này, chủ dự án có trách nhiệm cung cấp bổ sung các số liệu, báo cáo, thông tin về dự án nếu các cơ quan quy định tại Khoản 4 Điều này có yêu cầu và trực tiếp báo cáo, thuyết minh, giải trình tại các cuộc họp lấy ý kiến để làm rõ các vấn đề liên quan đến dự án.

6. Chủ dự án có trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý. Văn bản góp ý và tổng hợp tiếp thu, giải trình là thành phần của hồ sơ dự án khi trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt và phải được gửi kèm theo hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.

7. Việc lấy ý kiến hoặc thông báo trước khi lập dự án đối với các dự án đầu tư quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 6 của Luật tài nguyên nước được thực hiện như sau:
a) Đối với dự án có chuyển nước từ nguồn nước nội tỉnh:
- Chủ dự án gửi văn bản lấy ý kiến kèm theo quy mô, phương án chuyển nước và các thông tin, số liệu, tài liệu liên quan tới Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi nguồn nước nội tỉnh bị chuyển nước và Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Trong thời hạn bốn mươi (40) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xin ý kiến của chủ dự án, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức các buổi làm việc, cuộc họp với các cơ quan, tổ chức có liên quan cho ý kiến về quy mô, phương án chuyển nước đề xuất hoặc đối thoại trực tiếp với chủ dự án; tổng hợp ý kiến và gửi cho chủ dự án.
b) Đối với dự án có chuyển nước từ nguồn nước liên tỉnh, dự án đầu tư xây dựng hồ, đập trên dòng chính thuộc lưu vực sông liên tỉnh:
- Chủ dự án gửi văn bản lấy ý kiến kèm theo quy mô, phương án chuyển nước, phương án xây dựng công trình và các thông tin, số liệu, tài liệu liên quan tới Ủy ban nhân dân các tỉnh nơi nguồn nước liên tỉnh bị chuyển nước hoặc Ủy ban nhân dân các tỉnh nơi dòng chính chảy qua, tổ chức lưu vực sông và các Sở Tài nguyên và Môi trường liên quan;
- Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xin ý kiến của chủ dự án, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm gửi các tài liệu đến các sở, ban, ngành liên quan thuộc tỉnh;
- Trong thời hạn sáu mươi (60) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xin ý kiến của chủ dự án:
+ Tổ chức lưu vực sông có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ dự án;
+ Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức các buổi làm việc, cuộc họp với các sở, ban, ngành liên quan thuộc tỉnh và các tổ chức, cá nhân liên quan cho ý kiến về công trình dự kiến xây dựng hoặc đối thoại trực tiếp với chủ dự án tổng hợp ý kiến và trình Ủy ban nhân dân tỉnh để gửi chủ dự án.
c) Đối với dự án đầu tư xây dựng hồ, đập trên dòng nhánh thuộc lưu vực sông liên tỉnh:
Trước khi triển khai lập dự án đầu tư, chủ dự án phải thông báo về quy mô, phương án đề xuất xây dựng công trình cho tổ chức lưu vực sông, Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc lưu vực sông.
d) Trên cơ sở các ý kiến góp ý, chủ dự án hoàn chỉnh phương án xây dựng công trình gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tài nguyên nước xem xét, chấp thuận về quy mô, phương án xây dựng công trình trước khi lập dự án đầu tư.

8. Kinh phí tổ chức lấy ý kiến do chủ dự án chi trả.
Lên phía trên
Quy định về thu gom, xử lý nước thải và xả nước thải
Câu hỏi:
Bệnh viện tôi công tác là bệnh viện đa khoa của huyện, bệnh viện chúng tôi đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải và xử lý đạt quy chuẩn của nước thải y tế, lưu lượng nước thải khoảng 40 m3/ngày. Do bệnh viện nằm ở trung tâm thị trấn của huyện, xung quanh không có kênh mương, ao hồ tự nhiên và do huyện tôi là huyện miền núi nên không có hệ thống thu gom nước thải tập trung. Vì vậy, nước thải sau khi xử lý được đưa vào bể chứa sau đó đưa vào bi rút để tự thấm xuống đất (năm 2009 Bệnh viện được phê duyệt ĐTM cho phép nước thải sau xử lý tự thấm xuống đất).

Vì vậy, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết Bệnh viện xả nước thải như thế có vi phạm khoản 3, Điều 9 của Luật Tài nguyên nước 2012 không? Nếu có thì nước thải của bệnh viện phải thải vào đâu? (như đã nêu ở trên là trong khu vực không có sông, hồ tự nhiên, chưa có hệ thống thu gom nước thải, xung quanh bệnh bệnh viện là đất của dân, bệnh viện đang lập hồ sơ để đề nghị cấp giấy phép xả nước thải).

(Hiện nay, tại khu vực huyện tôi toàn bộ nước thải sinh hoạt của người dân, các Trường học được thu gom qua bể tự hoại rồi tự thấm xuống đất).

Rất mong nhận được sự hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trả lời:
Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Luật tài nguyên nước 2012, việc xả nước thải qua hình thức tự thấm vào lòng đất là hành vi bị nghiêm cấm. Do vậy, Bệnh viện cần có biện pháp thu gom, vận chuyển lượng thải sau xử lý đạt quy chuẩn cho phép xả vào nguồn nước sông, suối trong khu vực. Ngoài ra, nước thải bệnh viện là một trong những loại hình chứa chất thải độc hại theo quy định tại Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT, trong mọi trường hợp, dù quy mô thế nào cũng phải có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Việc xây dựng hệ thống tiêu thoát nước chung thuộc trách nhiệm chung của nhà nước. Để triển khai thực hiên các quy định này của Luật, các địa phương cần có kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý, tiêu dẫn nước thải sinh hoạt cho cả khu vực đô thị, nông thôn.

 

Lên phía trên
Quy định về xử lý nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Nhà máy sản xuất mủ Cao su của tôi nằm xa Khu dân cư, xả nước thải ra hồ sinh học của Nhà máy và tự thấm xuống đất với lưu lượng 22m3/ngày.đêm. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn. Vậy việc xả thải theo hình thức tự thấm vào lòng đất có vi phạm luật tài nguyên nước hay không?
Trả lời:
Trả lời:

Nước thải như trường hợp Bạn nêu, mặc dù đã được xử lý đạt quy chuẩn nhưng vẫn là nước thải. Vì vậy, theo quy định tại Khoản 5 Điều 26 của Luật TNN, hồ sinh học của Nhà Máy phải được chống thấm. Việc không chống thấm mà để tự thấm xuống đất là vi phạm pháp luật về TNN.


Lên phía trên
Lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước
Câu hỏi:
Công ty tôi có khai thác nước suối để kinh doanh (cung cấp nước sạch 500m3/ngày/đêm) đề nghị Sở TNMT cho biết công ty tôi phải làm các thủ tục gì?làm tại đâu để chấp hành đúng các quy định pháp luật về tài nguyên nước?
Trả lời:
1. Theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 16 và Khoản đ Điều 28 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, trường hợpkhai thác sử dụng nước suối với công suất 500m3/ngày đêm thuộc đối tượng phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác nước mặt trình UBND tỉnh xem xét, cấp giấy phép.

2. Do bà chưa nêu rõ là Công ty hiện đang khai thác nước để kinh doanh hay chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác nước mặt để kinh doanh, vì vậy chúng tôi đưa ra hai trường hợp để bà đối chiếu thực tế hoạt động của công ty và áp dụng lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước như sau:
 
a) Trường hợp chưa khai thác, sử dụng nước mặt để kinh doanh:
 
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác sử dụng nước mặt theo quy định tại mục 5, thủ tục hành chính ban hành mới, bãi bỏ hủy bỏ về lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường, ban hành kèm theo Quyết định số 625/QĐ-UBND ngày 23/6/2015 của UBND tỉnh Lai Châu, gồm:

- Đơn đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt theo mẫu số 29 Thông tư số 27 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
 
- Đề án khai thác, sử dụng nước mặt theo mẫu 29 Thông tư số 27 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
 
- Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
 
- Sơ đồ vị trí công trình khai thác nước.
 
b) Trường hợp đang khai thác, sử dụng nước mặt để kinh doanh:
 
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác sử dụng nước mặt theo quy định tại mục 5, Thủ tục hành chính ban hành mới, bãi bỏ hủy bỏ về lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường, ban hành kèm theo Quyết định số 625/QĐ-UBND ngày 23/6/2015 của UBND tỉnh Lai Châu, gồm:

- Đơn đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước  theo mẫu số 05 Ban hành kèm theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
 
- Báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng nước mặt theo mẫu số 30 Thông tư số 27 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường  kèm theo quy trình vận hành (nếu thuộc đối tượng phải có quy trình vận hành).
 
- Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
 
 - Sơ đồ vị trí công trình khai thác nước.
 
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt được lập thành 02 bộ và nộp tại bộ phận  "Tiếp nhận và trả kết quả" của Sở Tài nguyên và Môi trường để thẩm định, trình UBND tỉnh xem xét cấp giấy phép.
 
Lưu ý: Trường hợp Công ty đã, đang khai thác hoặc chuẩn bị lập hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt để kinh doanh, nếu có phát sinh nước thải với lưu lượng xả 5m3/ngày, đêm phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước đề nghị liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu theo số điện thoại 02313.876.254 để được hướng dẫn./.
Lên phía trên
Thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Câu hỏi:
Gia đình tôi có khai thác nước giếng 8m3/ngày/đêm để phục vụ cho nhà hàng và nhà nghỉ. Đề nghị Sở cho biết gia đình tôi phải làm những thủ tục gì để chấp hành đúng quy định pháp luật về tài nguyên nước?
Trả lời:

Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, trường hợp khai thác nước nước dưới đất với công suất 8m3/ngày đêm không phải xin phép cấp phép khai thác sử dụng nước dưới đất. Tuy nhiên theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ , gia đình bà thuộc trường hợp phải đăng ký khai thác nước dưới đất với UBND cấp xã nơi bà có giếng đang thực hiện khai thác hoặc dự định đào giếng khai thác.
 
Thành phần, số lượng hồ sơ, địa chỉ nộp hồ sơ như sau:
 
- Thành phần hồ sơ: Tờ khai đăng ký khai thác nước dưới đất theo mẫu số 38 Ban hành kèm theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước;
 
- Số lượng hồ sơ: 02 bộ;
 
- Địa chỉ nộp hồ sơ: UBND xã nơi bà có giếng đang khai thác hoặc dự kiến đào giếng khai thác./.
Lên phía trên
Quy định về xử lý nước thải
Câu hỏi:
Theo quy định việc để nước thải sau xử lý được cho tự thấm là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định Luật Tài nguyên nước năm 2012. Vậy xin Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết hiện nay giải pháp quản lý và triển khai thực hiện quy định nêu trên như thế nào đối với người dân (hộ gia đình cá nhân), trường học, khu vui chơi giải trí, công cộng, cơ quan hành chính hay các khu vực chưa có hệ thống thu gom tập trung và đặt biệt là các vùng dân tộc thiểu số miền núi. Theo được biết thì các đối tượng nêu trên xả nước thải thông qua bể tự hoại 3 ngăn và ngăn cuối cùng là tự thấm hay xả nước thải sinh hoạt trực tiếp ra môi trường.
Trả lời:

Việc đưa nước thải, kể cả nước thải đã qua xử lý là nguy cơ lớn gây ô nhiễm các nguồn nước. Chính vì vây, đây là một trong những hành vi mà Luật TNN nghiêm cấm.
 
Việc xử lý nước thải sinh hoạt thuộc trách nhiệm chung của nhà nước. Để triển khai thực hiên các quy định này của Luật, các địa phương cần có kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý, tiêu dẫn nước thải sinh hoạt cho cả khu vực đô thị, nông thôn.
Lên phía trên
Quy định về lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với dự án xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Trường hợp nhà máy sản xuất nằm trong KCN và phù hợp với phân khu chức năng theo quy hoạch, theo luật BVMT thì khi làm ĐTM không cần phải tham vấn cộng đồng.

Tuy nhiên, khi làm hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước cho công trình xả thải có quy mô > 10.000 m3/ngày thì theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013, Công ty phải tiến hành tham vấn cộng đồng cho dự án đầu tư.

Như vậy trong trường hợp này Công ty có cần tham vấn cộng đồng hay không? Nếu có thì tham vấn cho công trình xả thải (theo Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013) hay tham vấn cho dự án đầu tư (ĐTM đã được phê duyệt)?

Trường hợp nhà máy sản xuất nằm trong KCN và phù hợp với phân khu chức năng theo quy hoạch, theo luật BVMT thì khi làm ĐTM không cần phải tham vấn cộng đồng.

Tuy nhiên, khi làm hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước cho công trình xả thải có quy mô > 10.000 m3/ngày thì theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013, Công ty phải tiến hành tham vấn cộng đồng cho dự án đầu tư.

Như vậy trong trường hợp này Công ty có cần tham vấn cộng đồng hay không? Nếu có thì tham vấn cho công trình xả thải (theo Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013) hay tham vấn cho dự án đầu tư (ĐTM đã được phê duyệt)?
Trả lời:
Đối với trường hợp của Công ty, theo quy định của pháp luật về TNN, Công ty phải lấy ý kiến cộng động dân cư bị ảnh hưởng do hoạt động xả nước thải của mình trong quá trình lập Dự án. Kết quả lấy ý kiến cộng đồng là một trong những hồ sơ tài liệu để xem xét quyết định đầu tư dự án. Đồng thời khi nộp hồ sơ cấp phép xả thải phải gủi kèm theo kết quả nay. Việc thực hiện lấy ý kiến cộng đồng là một trong những điều kiện để được xem xét khi xem xét cấp phep xả nước thải quy định tại Điều 20 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013, Việc lấy ý cộng đồng phải thực hiện theo quy định tại Điều 2 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP chứ không phải là tham vấn cộng đồng cho công trình xả thải hay ĐTM như quý vị nêu.
 
Lên phía trên
Quy định về xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải.
Câu hỏi:
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 37, Luật Tài nguyên nước năm 2012 có quy định: Dự án xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có hạng mục đầu tư xây dựng hệ thống thu gom tách riêng nước mưa, nước thải.

Tôi xin hỏi: Đối với trường hợp Công ty tôi đã xây dựng và đi vào hoạt động ổn định từ năm 2008 thì có thuộc đối tượng phải thực hiện theo quy định trên không? Trường hợp chúng tôi không có hệ thống thu gom, tách riêng nước mưa, nước thải thì có đủ điều kiện để được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không?

Xin chân thành cảm ơn Bộ Tài nguyên và Môi trường!
Trả lời:
Tách nước mưa riêng với nước thải là yêu cầu của Luật tài nguyên nước. Nội dung này  quy định tại hướng dẫn lập Đề án/Báo cáo xả nước thải vào nguồn nước (mẫu số 35/mẫu số 36) ban hành kèm theo Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất; mẫu đơn, mẫu giấy phép, nội dung đề án, nội dung báo cáo trong hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước. Trong quá trình thẩm định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép, cơ quan cấp phép xả nước thải sẽ xem xét, thẩm định nội dung này nếu đủ điều kiện thi sẽ cấp.
Lên phía trên
Quy định về đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Tôi xin hỏi quý cơ quan về nội dung sau:

Tôi đang xin cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. nguồn tiếp nhận là suối ông Tấn, suối này tiếp nhận nước thải của 01 nhà hàng phục vụ ăn uống và nước thải của Công ty Tôi. Công ty tôi đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải phát sinh, kết quả phân tích hàng năm cho thấy đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 40 (cột A). Theo quy định tôi phải Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước theo quy định, tuy nhiên khi đánh giá xong thì suối không còn khả năng tiếp nhận nước thải. Kết quả phân tích nước cho thấy nước suối đa bị ô nhiễm một số chất. Tôi xin hỏi: Công ty tôi có được xả nước thải đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn loại A vào nguồn tiếp nhận nói trên không? Nếu không thì vì sao?

2. Công ty Tôi trước đây chỉ xử lý nươc thải sinh hoạt bằng hệ thống bể tự hoại, theo kết quả phân tích thì đều đạt QCVN (loại B), sau đó chảy vào hệ thống thoát nước chung của khu vực thì có được cấp giấy phép xả nước thải hay không?
Trả lời:
1. Khả năng tiêp nhận nước thải của nguồn nước là một trong nhưng yêu cầu, điều kiện khi xem xét, thẩm định hồ sơ cấp phép. Trường hợp nguồn nước tiếp nhận nước thải của Công ty không còn khả năng tiếp nhận nước thải với các thông số ô nhiễm có trong nước thải của Công ty sau khi xử lý đạt đến QCVN 40, cột A thì Công ty phải có biện pháp xử lý nước thải bảo đảm các thông số này đạt Quy chuẩn ở mức cao hơn cột A trước khi xả vào nguồn nước tiếp nhận. Hoặc Công ty có thể lựa chọn nguồn nước tiếp nhận khác còn khả năng tiếp nhận.
 

2. Theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước, việc xả nước thải vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung mà hệ thống đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và có thỏa thuận hoặc hợp đồng xử lý, tiêu thoát nước thải với tổ chức, cá nhân quản lý vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đó thì Công ty không phải xin cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Trường hợp hệ thống thoát nước chúng của khu vực chưa được cấp giấy phép xả nước thải, Công ty của bạn phải được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Lên phía trên
Xác định vị trí lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng nước thải
Câu hỏi:
Xin hỏi Bộ Tài nguyên và Môi trường. Xin Bộ cho biết việc xác định vị trí lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng nước thải được quy định, hướng dẫn tại văn bản nào? để cơ sở chúng tôi không phải lắp đặt đi lắp đặt lại đồng hồ đo lưu lượng theo các yêu cầu của đoàn kiểm tra.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời: 
Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước chỉ yêu cầu quan trắc được lưu lượng nước thải, không nhất thiết phải lắp đặt đồng hồ, vị trí lắp đặt bảo đảm đo được lưu lượng và thuận tiện cho việc kiểm tra, giám  sát của cơ quản lý.
Lên phía trên
Quy định về xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Theo quy định của pháp luật về TNN, Doanh nghiệp phải có Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước mới được phép xả nước thải vào nguồn nước đó. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về Môi trường không quy định phải có Giấy phép xả thải thì mới được phép xả nước thải vào nguồn nước mà chỉ xử lý đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải theo quy định thì được xả thải. Vậy xin hỏi Bộ TN&MT có thấy mối liên hệ của 2 quy định pháp luật này (TNN và MT) cần phải điều chỉnh như thế nào để Doanh nghiệp giảm bớt các thủ tục hành chính trong thời gian tới?
Trả lời:
Trả lời:
Hoạt động xả nước thải vào nguồn nước ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật về Bảo vệ môi trường còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về TNN.
Lên phía trên
Quy định về xả nước thải ra biển
Câu hỏi:
Công ty chúng tôi đang xây dựng dự án du lịch. Nước thải sau xử lý được xả ra biển theo hồ sơ môi trường được phê duyệt. Hiện trạng thoát nước: Nước thải được dẫn bằng ống nhựa từ ranh đất của dự án ra biển (ranh đất của dự án giáp mép biển và nước biển sẽ lấn vào đất của Công ty khi triều cường). Vị trí xả nước thải ngoài biển cách công ty là 200 m để khi triều kiệt nước thải vẫn xả ra biển. Tuy nhiên, khi lập hồ sơ xả nước thải vào nguồn nước. Căn cứ theo Mẫu 36 Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT thì từ vị trí sau ranh đất ra biển nơi đặt đường ống xả và vị trí xả phải có văn bản hợp lệ về đất để đặt công trình dẫn xả nước thải. Đối với trường hợp này văn bản hợp lệ là những văn bản nào kính đề nghị Bộ có hướng dẫn để công ty thực hiện. (Khó khăn: Khi triều cường thì đây là biển và khi triều kiệt thì phần đất này mới xuất hiện. Khi Công ty liên hệ chính quyền địa phương thì chính quyền không biết giải quyết như thế nào về phần đất 200m dẫn ra biển).
Trả lời:
Trả lời:

Theo Hướng dẫn lập Báo cáo xả nước thải vào nguồn nước tại Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT, trong hợp của Công ty bạn có thể rơi vào một trong hai trường hợp sau:

1. Hệ thống dẫn, xả nước thải của tổ chức, cá nhân đề nghị xin phép nằm trên đất do tổ chức/cá nhân nào quản lý, Công ty của bạn phải có văn bản thoả thuận được phép dử dụng đất để đặt công trình dẫn, xả nước thải với tổ chức/cá nhân quản lý phạm vi phần đất 200m dẫn ra biển.

2. Hệ thống dẫn, xả nước thải của tổ chức, cá nhân đề nghị xin phép nằm trên đất không do tổ chức/cá nhân nào quản lý, đồng nghĩa với việc phạm vi phần đất này do Nhà nước quản lý. Như vậy, Công ty của bạn phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho thuê hoặc giao đất đối với phần đất 200m dẫn ra biển này.
Lên phía trên
Thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước?
Trả lời:
Trả lời:
Theo Điều 28, Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định vê thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước như sau:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép đối với các trường hợp sau đây:
a) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với các công trình quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ;
b) Thăm dò, khai thác nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 2 m3/giây trở lên;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 2.000 kw trở lên;
đ) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 50.000 m3/ngày đêm trở lên;
e) Khai thác, sử dụng nước biển cho mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 100.000 m3/ngày đêm trở lên;
g) Xả nước thải với lưu lượng từ 30.000 m3/ngày đêm trở lên đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản;
h) Xả nước thải với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên đối với các hoạt động khác.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép đối với các trường hợp không quy định tại Khoản 1 Điều này.
 
Lên phía trên
Cấp lại giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, trong trường hợp nào thì được cấp lại giấy phép tài nguyên nước?
Trả lời:
Theo Điều 27, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Giấy phép được cấp lại trong các trường hợp sau đây:
- Giấy phép bị mất, bị rách nát, hư hỏng;
- Tên của chủ giấy phép đã được cấp bị thay đổi do nhận chuyển nhượng, sáp nhập, chia tách, cơ cấu lại tổ chức làm thay đổi chủ quản lý, vận hành công trình thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước nhưng không có sự thay đổi các nội dung khác của giấy phép.
 Thời hạn ghi trong giấy phép được cấp lại là thời hạn còn lại theo giấy phép đã được cấp trước đó.
Lên phía trên
Nghĩa vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Chào anh/chị,
Xin hãy cho biết nghĩa vụ pháp lý khi thực hiện khai thác sử dụng tài nguyên nước là gì? Việc khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện được quy định như thế nào?
Trân trọng cảm ơn!
Trả lời:
Trả lời:
1. Theo khoản 2, Điều 43 của Luật Tài nguyên nước số 17/2013/QH13 có nêu, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có các nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;

b) Sử dụng nước đúng mục đích, tiết kiệm, an toàn và có hiệu quả;

c) Không gây cản trở hoặc làm thiệt hại đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

d) Bảo vệ nguồn nước do mình trực tiếp khai thác, sử dụng;

đ) Thực hiện nghĩa vụ về tài chính; bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định của pháp luật;

e) Cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học được Nhà nước cho phép;

g) Khi bổ sung, thay đổi mục đích, quy mô khai thác, sử dụng thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp không phải xin cấp giấy phép, không phải đăng ký theo quy định tại Điều 44 của Luật này;

h) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Theo  Điều 47, của Luật Tài nguyên nước số 17/2013/QH13 quy định việc khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện như sau:

1. Việc khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện phải bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, trừ trường hợp khai thác, sử dụng nước với quy mô nhỏ.

2. Việc xây dựng các công trình thủy điện phải phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước, tuân thủ quy định tại Điều 53 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện phải tuân theo quy trình vận hành hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu nguồn nước; có trách nhiệm hỗ trợ người dân nơi có hồ chứa.

Lên phía trên
Quy mô hành nghề khoan nước dưới đất được quy định như thế nào?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, quy mô hành nghề khoan nước dưới đất được quy định như thế nào?
Trả lời:
Trả lời:

Theo Điều 3, Nghị định  60/2016/NĐ-CP Quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Quy mô hành nghề khoan nước dưới đất được quy định như sau:

a) Hành nghề khoan nước dưới đất quy mô nhỏ là hành nghề khoan và lắp đặt các giếng khoan nước dưới đất có đường kính ống chống hoặc ống vách nhỏ hơn 110 mm và thuộc công trình có lưu lượng nhỏ hơn 200 m3/ngày đêm;

b) Hành nghề khoan nước dưới đất quy mô vừa là hành nghề khoan và lắp đặt các giếng khoan nước dưới đất có đường kính ống chống hoặc ống vách nhỏ hơn 250 mm và thuộc công trình có lưu lượng từ 200 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm;

c) Hành nghề khoan nước dưới đất quy mô lớn gồm các trường hợp không quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.
 
Lên phía trên
Thời hạn của giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, thời hạn của giấy phép là bao lâu?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 21, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Thời hạn của giấy phép tài nguyên nước được quy định như sau:
- Giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển có thời hạn tối đa là mười lăm (15) năm, tối thiểu là năm (05) năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là ba (03) năm, tối đa là mười (10) năm;
-  Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn là hai (02) năm và được xem xét gia hạn một (01) lần, thời gian gia hạn không quá một (01) năm;
- Giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất có thời hạn tối đa là mười (10) năm, tối thiểu là ba (03) năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là hai (02) năm, tối đa là năm (05) năm;
-  Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước có thời hạn tối đa là mười (10) năm, tối thiểu là ba (03) năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối thiểu là hai (02) năm, tối đa là năm (05) năm.
Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp hoặc gia hạn giấy phép với thời hạn ngắn hơn thời hạn tối thiểu quy định tại Khoản này thì giấy phép được cấp hoặc gia hạn theo thời hạn đề nghị trong đơn.
 Căn cứ điều kiện của từng nguồn nước, mức độ chi tiết của thông tin, số liệu điều tra, đánh giá tài nguyên nước và hồ sơ đề nghị cấp hoặc gia hạn giấy phép của tổ chức, cá nhân, cơ quan cấp phép quyết định cụ thể thời hạn của giấy phép.
Lên phía trên
Hoàn trả lại giấy phép sử dụng nước ngầm
Câu hỏi:
Doanh nghiệp của tôi la chuyên sản xuất bia, NGK, trước đây chúng tôi có xin giấp phép được khai thác nước ngầm để phục vụ sản xuất, nay do không còn nhu cầu sử dụng nhưng vẫn trong thời gian giấy phép có hiệu lực.
Vậy xin kính hỏi quý Cục là doanh nghiệp chúng tôi cần phải làm những thủ tục gì để có thể trả lại giấy phép này!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Trả lời:
Theo Điều 26, Nghị định 201/2013/ND-CP quy định: Giấy phép tài nguyên nước đã được cấp nhưng chủ giấy phép không sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng tiếp thì có quyền trả lại cho cơ quan cấp giấy phép và thông báo lý do.
Đề nghị quý cơ quan liên hệ với cơ quan cấp giấy phép để được hướng dẫn cụ thể về thủ tục, hồ sơ trả lại giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định.
Trân trọng cảm ơn!
Lên phía trên
Phương án cắm mốc hành lang bảo vệ hồ chứa?
Câu hỏi:
Tôi vừa nhận được câu trả lời của Bộ Tài nguyên và Môi trường về câu hỏi liên quan đến Phương án cắm mốc hành lang bảo vệ hồ chứa. Theo trả lời của Bộ thì trong khi chờ Chính phủ ban hành Nghị định về lĩnh vực này,việc thẩm định, phê duyệt Phương án cắm mốc tạm thời sẽ thực hiện theo Nghị định 120/2008/NĐ-CP. Nhưng Điều 48 Nghị đinh 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật tài nguyên nước đã bãi bỏ Nghị định 112/2008/NĐ-CP. Vậy xin hỏi có văn bản nào khác hướng dẫn thẩm định, phê duyệt Phương án cắm mốc không?
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước năm 2012 (Điều 48) chỉ bãi bỏ các quy định của Nghị định số 112/2008/NĐ-CP ngày 20/10/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ và khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường hồ chứa thủy điện, thủy lợi đối với các nội dung trái với quy định của Luật tài nguyên nước 2012, không bãi bỏ toàn bộ Nghị định số 112/2008/NĐ-CP.
 
Lên phía trên
Đối với vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản thì trường hợp hành vi xảy ra trước ngày văn bản áp dụng có hiệu lực, nhưng sau khi văn bản có hiệu lực mới phát hiện thì phải áp dụng theo văn bản mới hay cũ?
Câu hỏi:
Tại điều 49 điều khoản chuyển tiếp của Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Ví dụ: hành vi khai thác nước ngầm không có giấy phép theo quy định xảy ra từ tháng 7/2013 đến tháng 1/2014 mới phát hiện ra. Như vậy, áp dụng xử phạt theo Nghị định nào. Rất mong được giúp đỡ.
Trả lời:
Trả lời:

Theo Điều 49 Nghị định 142/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2013, có quy định về Điều khoản chuyển tiếp như sau:

 

"1. Những hành vi vi phạm xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa bị xử phạt mà đang được xem xét, giải quyết hoặc sau khi Nghị định này có hiệu lực thi hành mới bị phát hiện thì áp dụng theo quy định tại Nghị định số 34/2005/NĐ-CP, Nghị định số 150/2004/NĐ-CP và Nghị định số 77/2007/NĐ-CP để xử phạt. Trường hợp các quy định về xử phạt quy định tại Nghị định này có lợi cho tổ chức, cá nhân thì áp dụng quy định tại Nghị định này để xử phạt.

 

2. Hành vi vi phạm đã có quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành nhưng chưa chấp hành hoặc chấp hành chưa xong thì thi hành theo quyết định xử phạt trước đó".

 

Như vậy, Điều luật này quy định có nghĩa là:

 

Đối với những hành vi vi phạm:

 

- Đã xảy ra trước ngày 15/12/2013 (ngày Nghị định 142/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) nhưng chưa bị xử phạt, đang được xem xét, giải quyết ;

 

- Đã xảy ra trước ngày 15/12/2013 nhưng sau ngày 15/12/2013 mới bị phát hiện;

 

Thì tùy vào tính chất hành vi vi phạm để áp dụng xử phạt hành chính theo:

 

- Nghị định 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;

 

- Nghị định 150/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2004 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản;

 

- Nghị định 77/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản.

 

Hay có thể hiểu là, việc xử lý vi phạm hành chính áp dụng Nghị định 142/2013/NĐ-CP để xử phạt là áp dụng đối với các hành vi vi phạm mà tính từ thời điểm hành vi xảy ra sau khi Nghị định này có hiệu lực.

 

Còn đối với các hành vi vi phạm mà thời điểm xảy ra trước ngày 15/12/2013 thì áp dụng để xử phạt hành chính theo Nghị định 150/2004/NĐ-CP, Nghị định 34/2005/NĐ-CP và Nghị định  77/2007/NĐ-CP.

 

Nhưng nếu hành vi vi phạm thuộc trường hợp phải áp dụng xử phạt theo một trong các nghị định trên mà bất lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thì áp dụng xử phạt theo Nghị định 142/2013/NĐ-CP.

 

Ví dụ, Hành vi khai thác nước ngầm không có giấy phép theo quy định xảy ra từ tháng 7/2013 đến tháng 1/2014 mới phát hiện ra. Hành vi này sẽ áp dụng xử phạt theo Nghị định 34/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Lên phía trên
Mức xử phạt đối với hành vi đổ vào sông, ngòi, ao, hồ, đầm công cộng các chất phế thải, đất, đá với khối lượng từ 10 m3 trở lên hoặc san lấp, lấn chiếm mặt nước với diện tích từ 10 m2 trở lên?
Câu hỏi:
Năm 2013 chính phủ ban hành Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 thay thế Nghị định 34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. tại Khoản 4, Điều 16, NĐ34 Ghi rõ: Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi đổ vào sông, ngòi, ao, hồ, đầm công cộng các chất phế thải, đất, đá với khối lượng từ 10 m3 trở lên hoặc san lấp, lấn chiếm mặt nước với diện tích từ 10 m2 trở lên. Nghị định 142/1013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/12/2013 thay thế nghị định 34 không có khoản nào xử phạt cụ thể hành vi đổ vào sông, ngòi, ao, hồ, đầm công cộng các chất phế thải, đất, đá. cho tôi hỏi phải áp dụng khoản nào, điều nào nghị định mới 142 thay thế nghị định cũ 34 cho phù hợp rất mong được giải đáp. (Hoàng Văn Chỉnh - Yên Châu, Sơn La)
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Đối với vấn đề đổ vào sông, ngòi, ao, hồ, đầm công cộng các chất phế thải, đất, đá hoặc san lấp, lấn chiếm mặt nước được điều chỉnh bới nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác, trong đó có pháp luật về đất đai. Nếu các hành vi này gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh rạch thì có thể áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Nghị định số 142/2013/NĐ-CP:  Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi đặt vật cản, chướng ngại vật, trồng cây gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh rạch.
 
Lên phía trên
Lập báo cáo xả thải theo hướng dẫn nào?
Câu hỏi:
Hiện nay Luật tài nguyên nước có hiệu lực rồi nhưng thông tư hướng dẫn thực hiện chưa có. Vậy xin hỏi quý Sở doanh nghiệp thực hiện lập báo cáo xả thải theo hướng dẫn nào ạ? (Nguyễn Thị Ngoc Hằng, 36 tuổi, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Trả lời:
Sở TNMT B.Rịa-Vũng Tàu trả lời:

Hiện nay, theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường những hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước (nói riêng) và hồ sơ đề nghị cấp giấy phép về Tài nguyên nước nói chung gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày Thông tư mới có hiệu lực thi hành, được lập theo mẫu hướng dẫn tại thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi thực hiện Nghị định số 149/2004/ND-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ hướng dẫn quy định cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng Tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
 
Lên phía trên
Thủ tục điều chỉnh lưu lượng trong giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất?
Câu hỏi:
Công ty của tôi đang sử dụng 02 giếng khoan có giấy phép đến tháng 7/2015, với lưu lượng cho phép là 560m3/ngày. Hiện nay, Công ty tôi có nhu cầu dùng nước lớn hơn lưu lượng đã cho phép trong giấy phép. Xin cho hỏi tôi có thể làm điều chỉnh lưu lượng lớn hơn được không? Thủ tục như thế nào? (Nguyễn Công Hoan, 32 tuổi, số 16-18, đường Dt 743, KCN Sóng Thần 2, thị xã Dĩ An, Bình Dương)
Trả lời:
Sở TNMT Bình Dương trả lời:
 
Công ty của Ông đặt tại KCN Sóng Thần 1, thị xã Dĩ An, nằm trong vùng hạn chế tối đa khai thác nước dưới đất đã được quy định tại Khoản 4, Điều 1, Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 21 tháng 02 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.
 
Do Công ty không nêu rõ ngành nghề sản xuất, nên Sở trả lời cho 02 trường hợp như sau:
 
- Trường hợp 1: Nếu ngành nghề sản xuất của Công ty không thuộc ngành đặc thù theo quy định tại Văn bản số 1359/UBND-KTN ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xử lý các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất thì Công ty chỉ được khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng theo như giấy phép đã cấp là 560m3/ngày, các nhu cầu tăng thêm công ty phải sử dụng nước cấp tập trung, khi giấy phép khai thác nước dưới đất hết hạn Công ty phải tiến hành trám lấp giếng và chuyển sang sử dụng toàn bộ nước cấp tập trung theo quy định.
 
- Trường hợp 2: Nếu ngành nghề sản xuất của Công ty thuộc một trong những ngành đặc thù được quy định tại Văn bản số 1359/UBND-KTN ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh, khi công ty muốn tăng thêm lưu lượng khai thác thì chỉ cho phép tăng thêm để phục vụ cho mục đích sản xuất đặc thù với lưu lượng theo nhu cầu thực tế hoặc theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường/Bản cam kết bảo vệ môi trường/Đề án bảo vệ môi trường đã được phê duyệt. 
 
Theo quy định tại khoản 4, Điều 23, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước:
 
+ Nếu lưu lượng tăng thêm không vượt quá 25% lưu lượng đã cấp phép thì công ty thực hiện thủ tục xin điều chỉnh nội dung giấy phép.
 
Thành phần hồ sơ điều chỉnh nội dung giấy phép được quy định tại Khoản 2, Điều 31, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ và biểu mẫu thực hiện theo Mẫu số 02-a/GĐNDĐ; 02-b/GĐNDĐ và 02-c/GĐNDĐ được quy định tại Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
 
+ Nếu lưu lượng tăng thêm lớn hơn 25% lưu lượng đã cấp phép thì công ty không được điều chỉnh nội dung giấy phép mà phải thực hiện thủ tục cấp mới giấy phép khai thác nước dưới đất.
 
Thành phần hồ sơ cấp giấy phép khai thác nước dưới đất được quy định tại Khoản 1, Điều 31, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ và biểu mẫu thực hiện theo theo Mẫu số 05/NDĐ; 10/NDĐ được quy định tại Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
 
Công ty có thể truy cập các thủ tục trên theo trang Web của Sở Tài nguyên và Môi trường theo đường dẫn: WWW.stnmt.binhduong.gov.vn/thủ tục hành chính/lĩnh vực tài nguyên nước.
 
Hồ sơ hoàn chỉnh nộp tại bộ phận 01 cửa - Sở Tài nguyên và Môi trường, tầng 1 tháp A tòa nhà Trung tâm Chính trị Hành chính tập trung, đường Lê Lợi, phường Hòa Phú, TP. Thủ Dầu Một, Bình Dương.
 
Lên phía trên
Văn bản hướng dẫn
Câu hỏi:
Theo Khoản 4, Điều 32, Luật tài nguyên nước có quy định “ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trong phạm vi địa phương theo quy định của bộ Tài nguyên và Môi trường”. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn thực hiện nội dung này. Xin được hỏi Công tác xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt tại địa phương thực hiện như thế nào? Vì đây là một trong những cơ sở để xem xét cấp phép xả nước thải vào nguồn nước nhằm bảo vệ nguồn nước sinh hoạt?

Lê Văn Tân, Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Dương.
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời: 

Trong khi chưa có quy định cụ thể về xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, các địa phương có thể căn cứ vào tình hình thực tế của từng công trình khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt, các yêu cầu về quản lý, bảo vệ nguồn nước này trên địa bàn khoanh định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt cho từng trường hợp cụ thể. 
Lên phía trên
Xử phạt đối với hành vi đổ chất thải lấn chiếm mặt nước?
Câu hỏi:
Đối với hành vi đổ vào sông, ngòi, ao, hồ, đầm công cộng các chất phế thải, đất, đá với khối lượng từ 100 m3 trở lên hoặc san lấp, lấn chiếm mặt nước với diện tích từ 100 m2 trở lên.CÓ áp dụng xử phạt theo Khoản 4, Điều 20, Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường hay không?
Trả lời:

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời:
 
Hoàn toàn có thể áp dụng Điểm n, Khoản 4, Điều 20 của Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường, với hành vi “đổ, thải chất thải rắn thông thường không đúng nơi quy định”.
 
Lên phía trên
Giấy phép khai thác giếng khoan dùng trong sinh hoạt?
Câu hỏi:
Công ty tôi nằm tại KCN Sóng Thần 1, Dĩ An, Bình Dương có sử dụng 1 giếng khoan dùng trong sinh hoạt (sinh hoạt tại kí túc xá cho các chuyên gia nước ngoài khoảng 40 người)xin cho hỏi vậy giếng khoan đó có cần phải có giấy phép khai thác không? xin cám ơn. (Nguyễn Công Hoan, Bình Dương)
Trả lời:
Sở Tài nguyên và môi trường Bình Dương xin được trả lời câu hỏi của Công ty như sau:
Trong câu hỏi, Công ty chưa nêu rõ lưu lượng khai thác nước dưới đất. Để có cơ sở thực hiện đúng quy định, đề nghị Công ty tiến hành lắp đặt thiết bị đo lưu lượng tại giếng khoan và tiến hành quan trắc lưu lượng hàng ngày, thời gian quan trắc trong 01 tháng. Cách xác định lưu lượng là lấy chỉ số ngày sau trừ chỉ số ngày trước để xác định lưu lượng khai thác nước hàng ngày và lưu lượng được xác định để làm căn cứ là lưu lượng ngày lớn nhất trong tháng.
Nếu lưu lượng khai thác không vượt quá 10 m3/ngày đêm, căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ thì Công ty phải làm thủ tục đăng ký khai thác nước dưới đất khi UBND tỉnh ban hành quy định vùng đăng ký khai thác nước dưới đất.
Nếu lưu lượng khai thác lớn hơn 10 m3/ngày đêm, căn cứ khoản 3 Điều 44 Luật tài nguyên nước năm 2012 Công ty thuộc diện phải được cấp giấy phép trước khi khai thác sử dụng nước dưới đất. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 21/02/2012 của UBND tỉnh Bình Dương thì khu vực Công ty thuộc vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Giải pháp thực hiện là không cấp phép khai thác nước dưới đất, phải đấu nối sử dụng nước cấp tập trung cho tất cả các mục đích và tiến hành trám lấp giếng khoan theo đúng quy định tại Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 04/9/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Khi sử dụng nước cấp tập trung cần liên hệ Xí nghiệp cấp nước Dĩ An theo địa chỉ: khu phố 1a, phường An Phú, TX thuận An, tỉnh Bình Dương(ĐT: 0650 3714289) để hợp đồng đầu nối sử dụng. 
 
Lên phía trên
Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện, xã trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường?
Câu hỏi:
Chủ tịch UBND cấp huyện, xã có thẩm quyền được xử phạt hành chính, có quyền tước giấy phép trong các lĩnh vực khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên nước, môi trường hay không?
(Lý Văn Vinh, Lai Châu)
Trả lời:
 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu trả lời như sau: 
Chủ tịch UBND cấp huyện, xã có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, được quy định tại khoản 1, 2, Điều 38, Chương II Luật Xử lý vi phạm hành chính, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Khóa 13, kỳ họp thứ III ngày 20/6/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Chủ tịch UBND cấp xã không có quyền tước giấy phép. 
Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền tước giấy phép trong các lĩnh vực khai thác khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường. Nhưng có thời hạn (không được tước giấy phép vĩnh viễn). Được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính; quy định tại khoản 2, điều 50, mục II, chương II, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; khoản 2, điều 45, chương IV, Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/110/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản./.
 
Lên phía trên
Phải xin ý kiến của nhân dân nếu muốn xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Chính phủ ban hành Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước, trong đó quy định việc lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước như thế nào?
Trả lời:
Theo Nghị định việc lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nhân dân trên địa bàn theo quy định tại Điều 6 của Luật Tài nguyên nước.

Văn bản này nêu rõ, các dự án có xây dựng công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lấy ý kiến bao gồm: Công trình hồ, đập có tổng dung tích từ 500 triệu m3 trở lên; công trình khai thác, sử dụng nước mặt với lưu lượng từ 10 m3/giây trở lên; công trình chuyển nước giữa các nguồn nước; công trình hồ, đập làm gián đoạn dòng chảy tự nhiên của sông, suối trên một đoạn có chiều dài từ 1 km trở lên; công trình xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 10.000 m3/ngày đêm trở lên; công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất có lưu lượng từ 12.000 m3/ngày đêm trở lên; các trường hợp quy định nêu trên nếu có yếu tố bí mật quốc gia thì không phải thực hiện việc lấy ý kiến.

Nội dung thông tin cung cấp để tổ chức lấy ý kiến bao gồm: Thuyết minh và thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu khả thi) kèm theo tờ trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định dự án; kế hoạch triển khai xây dựng công trình; tiến độ xây dựng công trình; các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước, đảm bảo nước cho các đối tượng sử dụng ở thượng và hạ lưu công trình trong quá trình xây dựng, vận hành công trình, thời gian công trình không vận hành...

Nghị định cũng quy định về vấn đề công khai thông tin trong quá trình liên quan đến quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước như mục đích khai thác, sử dụng nước, nguồn nước, vị trí công trình khai thác nước, phương thức và thời hạn khai thác, sử dụng nước…Đối với trường hợp xả nước thải vào nguồn nước cần công bố công khai các thông tin về loại nước thải, nguồn nước tiếp cận nước thải, vị trí xả nước thải, lưu lượng, phương thức xả nước thải, giới hạn thông số và nồng độ các chất nguy hiểm trong nước thải.

Đặc biệt Nghị định còn yêu cầu 30 ngày làm việc trước ngày khởi công và trong suốt quá trình thực hiện công trình khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, các thông tin trên phải được niêm yết công khai tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã và nơi địa điểm công trình. Đồng thời các thông tin này cũng phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của Uỷ ban nhân dân các huyện và trên trang thông tin điện tử của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có công trình khai thác, sử dụng nước thực hiện.

Lên phía trên
Hướng dẫn thi hành luật
Câu hỏi:
Hiện nay Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước đã có hiệu lực. Tuy nhiên, một số điều trong Nghị định có quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể thực hiện. Ví dụ như: Điều 8: Điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước ; Điều 17: Đăng ký khai thác nước dưới đất…

Vậy khi nào Bộ sẽ có những hướng dẫn cụ thể để Sở có cơ sở triển khai thực hiện?

Lê Văn Tân, Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Dương
Trả lời:
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời

Về đăng ký khai thác nước dưới đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ quy định trong Thông tư quy định đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp phép. Hiện nay, dự thảo Thông tư này đã lấy ý kiến các địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang hoàn chỉnh đế sớm ban hành.

Về điều tra cơ bản, quy hoạch tài nguyên nước, hiện đã có các định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá và các thông tư quy định kỹ thuật để thực hiện một số nội dung cụ thể về điều tra cơ bản, trong đó có các loại bản đồ tài nguyên nước. Đề nghị Sở nghiên cứu để thực hiện. 
Lên phía trên
Quy định về các mức xử lý phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Công ty của gia đình tôi hoạt động kinh doanh chủ yếu là khai thác và chế biến nước sạch (nước ngầm, khoáng). Cho tôi hỏi, ngoài Luật Tài nguyên nước 2012 có nhiều quy định liên quan đến việc xử lý vi phạm bảo vệ nguồn nước còn có văn bản nào quy định về các mức xử lý phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ tài nguyên nước?
Trả lời:
Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã bổ sung nhiều quy định mới về bảo vệ và xử lý vi phạm đối với tài nguyên nước như: Quy định về điều tra cơ bản và quy hoạch tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo vệ nguồn sinh thủy, hành lang bảo vệ nguồn nước; các biện pháp xử lý vi phạm tài nguyên nước…
 
Bên cạnh Luật Tài nguyên nước năm 2012, Nghị định số 142/2013/NĐ-CP đã cụ thể hóa các hình thức xử phạt, mức phạt liên quan đến các vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước. Qua đó, mức phạt tiền tối đa cho những vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước lên 250 triệu đồng với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức.
 
Cụ thể, một số hành vi vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực tài nguyên nước bị phạt tiền tới mức tối đa là: Xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng nước thải từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên, xả nước thải nuôi trồng thủy sản vào nguồn nước với lưu lượng nước thải từ 300.000 m3/ngày đêm trở lên; Xả nước thải vào lòng đất thông qua các giếng khoan, giếng đào và các hình thức khác nhằm đưa nước thải vào trong lòng đất; Xả khí thải độc hại trực tiếp vào nguồn nước; không thực hiện các biện pháp để kịp thời ứng phó, khắc phục sự cố do hành vi vi phạm gây ra gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng…
 
Tùy theo mức độ vi phạm, hành vi vi phạm các quy định về điều tra cơ bản, quy hoạch tài nguyên nước sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Hành vi vi phạm quy định về hồ chứa, về bảo vệ nguồn nước; về ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước sẽ bị phạt tiền đến 250 triệu đồng.
 
Hành vi vi phạm các quy định về hành lang bảo vệ nguồn nước sẽ bị phạt tiền tối đa đến 180 triệu đồng. Trên đây là mức phạt đối với cá nhân, với tổ chức vi phạm, mức phạt tăng gấp đôi.
 
Bên cạnh đó, Nghị định số 142/2013/NĐ-CP đã bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra có quyền phạt tiền đến 350 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước…
Lên phía trên
Điều chỉnh giấy phép thăm dò nước dưới đất
Câu hỏi:
Chào Anh/chị,
Xin hãy cho biết những trường hợp nào thì cần phải điều chỉnh giấy phép thăm dò nước dưới đất?
Trân trọng cảm ơn!
Trả lời:
Trả lời:
Tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định về các trường hợp điều chỉnh giấy phép thăm dò nước dưới đất:
a) Điều kiện mặt bằng không cho phép thi công một số hạng mục trong đề án thăm dò đã được phê duyệt;
b) Có sự khác biệt giữa cấu trúc địa chất thủy văn thực tế và cấu trúc địa chất thủy văn dự kiến trong đề án thăm dò đã được phê duyệt;
c) Khối lượng hạng mục thăm dò thay đổi vượt quá 10% so với khối lượng đã được phê duyệt.
Lên phía trên
Vai trò và cơ cấu tổ chức của tổ chức của tổ chức lưu vực sông?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, vai trò và cơ cấu tổ chức của tổ chức của tổ chức lưu vực sông?
Trả lời:
Theo Điều 5, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định:
1. Tổ chức lưu vực sông được tổ chức và hoạt động theo quy định của tổ chức phối hợp liên ngành.
Tổ chức lưu vực sông có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc điều hòa, phân phối nguồn nước, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, việc phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên một hoặc một số lưu vực sông liên tỉnh.
2. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập các tổ chức lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sông Cửu Long (Mê Công), theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
3. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập các tổ chức lưu vực sông đối với các lưu vực sông liên tỉnh khác với các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này, theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về tài nguyên nước.
Lên phía trên
Quy định về thực hiện kiểm kê tài nguyên nước ?
Câu hỏi:
Việc kiểm kê tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 7, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc kiểm kê tài nguyên nước được quy định như sau:

1. Việc kiểm kê tài nguyên nước được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước, định kỳ năm (05) năm một lần, phù hợp với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Trách nhiệm kiểm kê tài nguyên nước:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan xây dựng đề án, kế hoạch kiểm kê tài nguyên nước trên phạm vi cả nước, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tổ chức kiểm kê tài nguyên nước đối với các nguồn nước liên quốc gia, nguồn nước liên tỉnh; tổng hợp, công bố kết quả kiểm kê trên các lưu vực sông liên tỉnh và trên phạm vi cả nước;

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm kê tài nguyên nước đối với các nguồn nước nội tỉnh; tổng hợp kết quả kiểm kê của các lưu vực sông nội tỉnh, nguồn nước trên địa bàn và gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp;

c) Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện kiểm kê tài nguyên nước.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn nội dung, biểu mẫu kiểm kê, báo cáo kết quả kiểm kê tài nguyên nước.
 
Lên phía trên
Trách nhiệm của các cơ quan trong thực hiện điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Câu hỏi:
Trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong thực hiện điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 8, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trách nhiệm điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như sau:

Các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện điều tra, lập báo cáo tình hình sử dụng nước của ngành, lĩnh vực gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp;

Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức điều tra hiện trạng khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia; tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trên các lưu vực sông liên tỉnh và trên phạm vi cả nước;

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước trên địa bàn; tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trên các lưu vực sông nội tỉnh, trên địa bàn và gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định nội dung, biểu mẫu điều tra, nội dung báo cáo và trình tự thực hiện điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
Lên phía trên
Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 11, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước được quy định như sau:

1. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước bao gồm: Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia; Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước của địa phương.

2. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định các bộ dữ liệu, chuẩn dữ liệu; tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia và việc khai thác, chia sẻ thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước;

b) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và các Bộ, cơ quan ngang Bộ liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về sử dụng nước của mình và tích hợp vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước của địa phương và tích hợp vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia.
Lên phía trên
Các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước với quy mô nhỏ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được hiểu như thế nào?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước với quy mô nhỏ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được hiểu như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, Điều 16, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, các trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước với quy mô nhỏ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 44 của Luật tài nguyên nước bao gồm:
a) Khai thác nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 10 m3/ngày đêm không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 44 của Luật tài nguyên nước;
b) Khai thác nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 0,1 m3/giây;
c) Khai thác nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp không vượt quá 100 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy không vượt quá 50 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm; khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động trên biển, đảo.
Lên phía trên
Các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3, Điều 16, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, các trường hợp không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước quy định tại Khoản 5 Điều 37 của Luật tài nguyên nước bao gồm:
- Xả nước thải sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình;
-  Xả nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với quy mô không vượt quá 5 m3/ngày đêm và không chứa hóa chất độc hại, chất phóng xạ;
- Xả nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung mà hệ thống đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và có thỏa thuận hoặc hợp đồng xử lý, tiêu thoát nước thải với tổ chức, cá nhân quản lý vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đó;
- Xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa.
Lên phía trên
Nguyên tắc cấp phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Việc cấp phép tài nguyên nước phải đảm bảo các nguyên tắc gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 18, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc cấp phép tài nguyên nước phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
1. Đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
2. Bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan; bảo vệ tài nguyên nước và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
3. Ưu tiên cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước để cung cấp nước cho sinh hoạt.
4. Không gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước khi thực hiện việc thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
5. Phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt.
Lên phía trên
Các căn cứ cấp phép tài nguyên nước ?
Câu hỏi:
Việc cấp phép tài nguyên nước cần dựa theo những căn cứ nào?
Trả lời:
1. Theo quy định tại Điều 19, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc cấp phép tài nguyên nước cần dựa theo những căn cứ sau đây:
a) Chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, ngành, vùng và địa phương;
b) Quy hoạch tài nguyên nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch tài nguyên nước thì phải căn cứ vào khả năng nguồn nước và phải bảo đảm không gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước;
c) Hiện trạng khai thác, sử dụng nước trong vùng;
d) Báo cáo thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hồ sơ cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước;
đ) Nhu cầu khai thác, sử dụng nước, xả nước thải thể hiện trong đơn đề nghị cấp phép.
2. Trường hợp cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, ngoài các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này còn phải căn cứ vào các quy định sau đây:
a) Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải, chất lượng của nguồn nước tiếp nhận nước thải; các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hoạt động xả nước thải đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
b) Chức năng của nguồn nước;
c) Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước;
d) Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, hành lang bảo vệ nguồn nước.
3. Trường hợp cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất, ngoài các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này còn phải căn cứ vào các quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 52 của Luật tài nguyên nước.
Lên phía trên
Gia hạn giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Câu hỏi:
Việc gia hạn giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 22, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc gia hạn giấy phép được quy định như sau:
1. Việc gia hạn giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào các quy định tại Điều 18, Điều 19 và Điều 20 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP và các điều kiện sau đây:
a) Giấy phép vẫn còn hiệu lực và hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép được nộp trước thời điểm giấy phép hết hiệu lực ít nhất chín mươi (90) ngày;
b) Đến thời điểm đề nghị gia hạn, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến giấy phép đã được cấp theo quy định của pháp luật và không có tranh chấp;
c) Tại thời điểm đề nghị gia hạn giấy phép, kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước của tổ chức, cá nhân phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước, khả năng đáp ứng của nguồn nước.
2. Đối với trường hợp khác với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới.
Lên phía trên
Đình chỉ hiệu lực của giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Câu hỏi:
Việc đình chỉ hiệu lực của giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 24, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Giấy phép bị đình chỉ hiệu lực khi chủ giấy phép có một trong những vi phạm sau đây:
-  Vi phạm nội dung quy định trong giấy phép gây ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng nguồn nước;
-  Chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước mà không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận;
-  Không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;
-  Lợi dụng giấy phép để tổ chức hoạt động trái quy định của pháp luật.
 Thời hạn đình chỉ giấy phép:
+  Không quá ba (03) tháng đối với giấy phép thăm dò nước dưới đất;
+  Không quá mười hai (12) tháng đối với giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
Trong thời gian giấy phép bị đình chỉ hiệu lực, chủ giấy phép không có các quyền liên quan đến giấy phép và phải có biện pháp khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.
 Khi hết thời hạn đình chỉ hiệu lực của giấy phép mà cơ quan cấp phép không có quyết định khác thì chủ giấy phép được tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Lên phía trên
Điều chỉnh giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Việc điều chỉnh giấy phép được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 23, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc điều chỉnh giấy phép được quy định như sau:
1. Các trường hợp điều chỉnh giấy phép thăm dò nước dưới đất:
a) Điều kiện mặt bằng không cho phép thi công một số hạng mục trong đề án thăm dò đã được phê duyệt;
b) Có sự khác biệt giữa cấu trúc địa chất thủy văn thực tế và cấu trúc địa chất thủy văn dự kiến trong đề án thăm dò đã được phê duyệt;
c) Khối lượng hạng mục thăm dò thay đổi vượt quá 10% so với khối lượng đã được phê duyệt.
2. Các trường hợp điều chỉnh giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước:
a) Nguồn nước không bảo đảm việc cung cấp nước bình thường;
b) Nhu cầu khai thác, sử dụng nước tăng mà chưa có biện pháp xử lý, bổ sung nguồn nước;
c) Xảy ra các tình huống khẩn cấp cần phải hạn chế việc khai thác, sử dụng nước;
d) Khai thác nước gây sụt, lún mặt đất, biến dạng công trình, xâm nhập mặn, cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước;
đ) Lượng nước thực tế khai thác của chủ giấy phép nhỏ hơn 70% so với lượng nước được cấp phép trong thời gian mười hai (12) tháng liên tục mà không thông báo lý do cho cơ quan cấp phép;
e) Chủ giấy phép đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép khác với quy định tại Khoản 4 Điều này.
3. Các trường hợp điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước:
a) Nguồn nước không còn khả năng tiếp nhận nước thải;
b) Nhu cầu xả nước thải tăng mà chưa có biện pháp xử lý, khắc phục;
c) Xảy ra các tình huống khẩn cấp cần phải hạn chế việc xả nước thải vào nguồn nước;
d) Do chuyển đổi chức năng nguồn nước;
đ) Chủ giấy phép đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép khác với quy định tại Khoản 4 Điều này.
4. Các nội dung trong giấy phép không được điều chỉnh:
a) Nguồn nước khai thác, sử dụng; nguồn nước tiếp nhận nước thải;
b) Lượng nước khai thác, sử dụng vượt quá 25% quy định trong giấy phép đã được cấp;
c) Lượng nước xả vượt quá 25% quy định trong giấy phép đã được cấp;
d) Thông số, nồng độ các chất ô nhiễm, quy chuẩn áp dụng quy định trong giấy phép xả nước thải, trừ trường hợp cơ quan cấp phép yêu cầu điều chỉnh hoặc chủ giấy phép đề nghị áp dụng mức quy chuẩn cao hơn.
Trường hợp cần điều chỉnh nội dung quy định tại Khoản này, chủ giấy phép phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới.
5. Trường hợp chủ giấy phép đề nghị điều chỉnh giấy phép thì chủ giấy phép phải lập hồ sơ điều chỉnh giấy phép theo quy định của Nghị định này; trường hợp cơ quan cấp phép điều chỉnh giấy phép thì cơ quan cấp phép phải thông báo cho chủ giấy phép biết trước ít nhất chín mươi (90) ngày.
Lên phía trên
Gia hạn giấy phép khai thác
Câu hỏi:
Chào Anh/ chị,
Hiện tại công ty em có sử dụng 2 giếng khoan. Và hiện nay, giấy phép khai thác nước dưới đất của bên em đã hết hạn 1 năm. Giờ bên em phải làm thế nào để xin cấp lại giấy phép ạ. Em cảm ơn anh chị nhiều!
Trả lời:
Trả lời:
 Tại điều 22, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Tài nguyên nước quy định như sau:
1. Việc gia hạn giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào các quy định tại Điều 18, Điều 19 và Điều 20 của Nghị định này và các điều kiện sau đây:
a) Giấy phép vẫn còn hiệu lực và hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép được nộp trước thời điểm giấy phép hết hiệu lực ít nhất chín mươi (90) ngày;
b) Đến thời điểm đề nghị gia hạn, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến giấy phép đã được cấp theo quy định của pháp luật và không có tranh chấp;
c) Tại thời điểm đề nghị gia hạn giấy phép, kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước của tổ chức, cá nhân phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước, khả năng đáp ứng của nguồn nước.
2. Đối với trường hợp khác với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới.
Lên phía trên
Thu hồi giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào
Câu hỏi:
Việc thu hồi giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 25, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP:
1. Việc thu hồi giấy phép được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ giấy phép bị phát hiện giả mạo tài liệu, kê khai không trung thực các nội dung trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoặc sửa chữa làm sai lệch nội dung của giấy phép;
b) Tổ chức là chủ giấy phép bị giải thể hoặc bị tòa án tuyên bố phá sản; cá nhân là chủ giấy phép bị chết, bị tòa án tuyên bố là đã chết, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố mất tích;
c) Chủ giấy phép vi phạm quyết định đình chỉ hiệu lực của giấy phép, tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần các quy định của giấy phép;
d) Giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền;
đ) Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi giấy phép vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
e) Giấy phép đã được cấp nhưng chủ giấy phép không thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận giấy phép.
2. Trường hợp giấy phép bị thu hồi quy định tại Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều này, chủ giấy phép chỉ được xem xét cấp giấy phép mới sau ba (03) năm, kể từ ngày giấy phép bị thu hồi sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến việc thu hồi giấy phép cũ.
3. Trường hợp giấy phép bị thu hồi quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép xem xét việc cấp giấy phép mới.
4. Trường hợp giấy phép bị thu hồi quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này thì chủ giấy phép được nhà nước bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.
Lên phía trên
Trả lại giấy phép, chấm dứt hiệu lực của giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Việc trả lại giấy phép, chấm dứt hiệu lực của giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 26, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc trả lại giấy phép, chấm dứt hiệu lực của giấy phép được quy định như sau:
1. Giấy phép tài nguyên nước đã được cấp nhưng chủ giấy phép không sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng tiếp thì có quyền trả lại cho cơ quan cấp giấy phép và thông báo lý do.
2. Giấy phép bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy phép bị thu hồi;
b) Giấy phép đã hết hạn;
c) Giấy phép đã được trả lại.
3. Khi giấy phép bị chấm dứt hiệu lực thì các quyền liên quan đến giấy phép cũng chấm dứt.
Lên phía trên
Thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường ?
Câu hỏi:
Thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố?
Trả lời:
Theo Điều 28, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép đối với các trường hợp sau đây:
a) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với các công trình quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ;
b) Thăm dò, khai thác nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 2 m3/giây trở lên;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 2.000 kw trở lên;
đ) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 50.000 m3/ngày đêm trở lên;
e) Khai thác, sử dụng nước biển cho mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 100.000 m3/ngày đêm trở lên;
g) Xả nước thải với lưu lượng từ 30.000 m3/ngày đêm trở lên đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản;
h) Xả nước thải với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên đối với các hoạt động khác.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thu hồi và cấp lại giấy phép đối với các trường hợp không quy định tại Khoản 1 Điều này.
Lên phía trên
Cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Cơ quan nào chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép tài nguyên nước?
Trả lời:
Theo Điều 29, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định về cơ quan tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép (sau đây gọi chung là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) bao gồm:
1. Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và quản lý hồ sơ, giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Lên phía trên
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất bao gồm những tài liệu gì?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất bao gồm những tài liệu gì?
Trả lời:
Theo Điều 30, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định về hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất như sau:
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) Đề án thăm dò nước dưới đất đối với công trình có quy mô từ 200 m3/ngày đêm trở lên; thiết kế giếng thăm dò đối với công trình có quy mô nhỏ hơn 200 m3/ngày đêm.
2. Hồ sơ đề nghị gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép thăm dò nước dưới đất bao gồm:
a) Đơn đề nghị gia hạn hoặc điều chỉnh nội dung giấy phép;
b) Báo cáo tình hình thực hiện các quy định trong giấy phép;
c) Bản sao giấy phép đã được cấp.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu đơn, nội dung đề án, nội dung báo cáo quy định tại Điều này.
Lên phía trên
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất?
Câu hỏi:
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 31, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) Sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác nước dưới đất;
c) Báo cáo kết quả thăm dò đánh giá trữ lượng nước dưới đất kèm theo phương án khai thác đối với công trình có quy mô từ 200 m3/ngày đêm trở lên hoặc báo cáo kết quả thi công giếng khai thác đối với công trình có quy mô nhỏ hơn 200 m3/ngày đêm trong trường hợp chưa có công trình khai thác; báo cáo hiện trạng khai thác đối với trường hợp công trình khai thác nước dưới đất đang hoạt động;
d) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá sáu (06) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ.
Trường hợp chưa có công trình khai thác nước dưới đất, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải nộp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
2. Hồ sơ đề nghị gia hạn, điều chỉnh giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất bao gồm:
a) Đơn đề nghị gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép;
b) Báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng nước và tình hình thực hiện giấy phép. Trường hợp điều chỉnh giấy phép có liên quan đến quy mô công trình, số lượng giếng khai thác, mực nước khai thác thì phải nêu rõ phương án khai thác nước;
c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá sáu (06) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
d) Bản sao giấy phép đã được cấp.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu đơn, nội dung báo cáo, nội dung đề án quy định tại Điều này.
Lên phía trên
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển ?
Câu hỏi:
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 32, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định về hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển như sau:
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) Đề án khai thác, sử dụng nước đối với trường hợp chưa có công trình khai thác; báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng nước kèm theo quy trình vận hành đối với trường hợp đã có công trình khai thác (nếu thuộc trường hợp quy định phải có quy trình vận hành);
c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
d) Sơ đồ vị trí công trình khai thác nước.
Trường hợp chưa có công trình khai thác nước mặt, nước biển, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải nộp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
2. Hồ sơ đề nghị gia hạn, điều chỉnh giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển bao gồm:
a) Đơn đề nghị gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép;
b) Báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng nước và tình hình thực hiện giấy phép. Trường hợp điều chỉnh quy mô công trình, phương thức, chế độ khai thác sử dụng nước, quy trình vận hành công trình thì phải kèm theo đề án khai thác nước;
c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
d) Bản sao giấy phép đã được cấp.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu đơn, nội dung báo cáo nội dung đề án quy định tại Điều này.
Lên phía trên
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 33, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định về hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển như sau:
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) Đề án xả nước thải vào nguồn nước kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp chưa xả nước thải; báo cáo hiện trạng xả nước thải kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải đối với trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước;
c) Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước tiếp nhận tại vị trí xả nước thải vào nguồn nước; kết quả phân tích chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý đối với trường hợp đang xả nước thải. Thời điểm lấy mẫu phân tích chất lượng nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
d) Sơ đồ vị trí khu vực xả nước thải.
Trường hợp chưa có công trình xả nước thải vào nguồn nước, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải nộp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
2. Hồ sơ đề nghị gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước bao gồm:
a) Đơn đề nghị gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép;
b) Kết quả phân tích chất lượng nước thải và chất lượng nguồn nước tiếp nhận tại vị trí xả nước thải vào nguồn nước. Thời điểm lấy mẫu phân tích chất lượng nước không quá ba (03) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
c) Báo cáo hiện trạng xả nước thải và tình hình thực hiện các quy định trong giấy phép. Trường hợp điều chỉnh quy mô, phương thức, chế độ xả nước thải, quy trình vận hành thì phải có đề án xả nước thải;
d) Bản sao giấy phép đã được cấp.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu đơn, nội dung đề án, nội dung báo cáo quy định tại Điều này.
Lên phía trên
Hồ sơ cấp lại giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Hồ sơ cấp lại giấy phép tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 34, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định về hồ sơ cấp lại giấy phép tài nguyên nước như sau:
1. Đơn đề nghị cấp lại giấy phép.
2. Tài liệu chứng minh lý do đề nghị cấp lại giấy phép.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu đơn quy định tại Điều này.
Lên phía trên
Trình tự, thủ tục cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Trình tự, thủ tục cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 35, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trình tự, thủ tục cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được tiến hành như sau:
1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
a) Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nộp hai (02) bộ hồ sơ và nộp phí thẩm định hồ sơ theo quy định của pháp luật cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép còn phải nộp thêm một (01) bộ hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường của địa phương dự định đặt công trình;
b) Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ sau khi đã bổ sung mà vẫn không đáp ứng yêu cầu theo quy định thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép.
2. Thẩm định đề án, báo cáo thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trong hồ sơ đề nghị cấp phép (sau đây gọi chung là đề án, báo cáo):
a) Trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định đề án, báo cáo; nếu cần thiết thì kiểm tra thực tế hiện trường, lập hội đồng thẩm định đề án, báo cáo. Trường hợp đủ điều kiện cấp phép, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép; trường hợp không đủ điều kiện để cấp phép thì trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép và thông báo lý do không cấp phép;
b) Trường hợp phải bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện đề án, báo cáo thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung cần bổ sung, hoàn thiện đề án, báo cáo. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hoặc lập lại đề án, báo cáo không tính vào thời gian thẩm định đề án, báo cáo. Thời gian thẩm định sau khi đề án, báo cáo được bổ sung hoàn chỉnh là hai mươi (20) ngày làm việc;
c) Trường hợp phải lập lại đề án, báo cáo, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép nêu rõ những nội dung đề án, báo cáo chưa đạt yêu cầu, phải làm lại và trả lại hồ sơ đề nghị cấp phép.
3. Trả kết quả giải quyết hồ sơ cấp phép
Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép để thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận giấy phép.
Lên phía trên
Thủ tục gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước?
Câu hỏi:
Trình tự thực hiện thủ tục gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 36, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trình tự thực hiện thủ tục gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định như sau:
1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:
a) Tổ chức, cá nhân đề nghị gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép (sau đây gọi tắt là tổ chức, cá nhân) nộp hai (02) bộ hồ sơ và nộp phí thẩm định hồ sơ theo quy định của pháp luật cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổ chức, cá nhân còn phải nộp thêm một (01) bộ hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường của địa phương dự định đặt công trình;
b) Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân để hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ sau khi đã bổ sung hoàn thiện mà vẫn không đáp ứng yêu cầu theo quy định thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân và thông báo rõ lý do.
2. Thẩm định đề án, báo cáo đối với trường hợp gia hạn, điều chỉnh giấy phép:
a) Trong thời hạn hai mươi lăm (25) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định đề án, báo cáo, nếu cần thiết kiểm tra thực tế hiện trường, lập hội đồng thẩm định đề án, báo cáo. Trường hợp đủ điều kiện gia hạn, điều chỉnh giấy phép thì trình cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Trường hợp không đủ điều kiện để gia hạn, điều chỉnh giấy phép, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân và thông báo lý do không gia hạn, điều chỉnh giấy phép;
b) Trường hợp phải bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện đề án, báo cáo, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân nêu rõ những nội dung cần bổ sung, hoàn thiện đề án, báo cáo. Thời gian bổ sung, hoàn thiện hoặc lập lại đề án, báo cáo không tính vào thời gian thẩm định đề án, báo cáo. Thời gian thẩm định sau khi đề án, báo cáo được bổ sung hoàn chỉnh là hai mươi (20) ngày làm việc;
c) Trường hợp phải lập lại đề án, báo cáo, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản thông báo cho tổ chức, cá nhân nêu rõ những nội dung đề án, báo cáo chưa đạt yêu cầu, phải làm lại và trả lại hồ sơ.
3. Thẩm định hồ sơ đối với trường hợp cấp lại giấy phép:
Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, nếu đủ điều kiện để cấp lại giấy phép thì trình cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Trường hợp không đủ điều kiện, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ cho tổ chức, cá nhân và thông báo lý do.
4. Trả kết quả giải quyết hồ sơ cấp phép:
Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo cho tổ chức, cá nhân để thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận giấy phép.
Lên phía trên
Trình tự, thủ tục đình chỉ giấy phép về tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Trình tự, thủ tục đình chỉ giấy phép về tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 37, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trình tự, thủ tục đình chỉ giấy phép về tài nguyên nước được quy định như sau:
1. Khi phát hiện chủ giấy phép có các vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 24 của Nghị định này, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm xem xét đình chỉ hiệu lực của giấy phép.
2. Căn cứ vào mức độ vi phạm của chủ giấy phép, mức độ ảnh hưởng của việc đình chỉ giấy phép đến hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng, cơ quan cấp giấy phép quyết định thời hạn đình chỉ hiệu lực của giấy phép.
3. Cơ quan cấp giấy phép có thể xem xét rút ngắn thời hạn đình chỉ hiệu lực của giấy phép khi chủ giấy phép đã khắc phục hậu quả liên quan đến lý do đình chỉ giấy phép và hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Lên phía trên
Trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép về tài nguyên nước ?
Câu hỏi:
Trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép về tài nguyên nước được quy định nhue thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 38, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép về tài nguyên nước quy định như sau:
1. Khi thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc đột xuất việc thực hiện giấy phép, nếu phát hiện các trường hợp quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 25 của Nghị định này thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho cơ quan cấp phép; nếu phát hiện các trường hợp quy định tại Điểm c, Điểm d Khoản 1 Điều 25 của Nghị định này, thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra xử lý theo thẩm quyền, đồng thời báo cáo bằng văn bản cho cơ quan cấp phép.
Trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo, cơ quan cấp phép có trách nhiệm xem xét việc thu hồi giấy phép.
2. Đối với trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi giấy phép quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 25 của Nghị định này thì phải thông báo cho chủ giấy phép biết trước chín mươi (90) ngày.
3. Đối với trường hợp giấy phép bị thu hồi theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 25 của Nghị định này thì trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan tiếp nhận, thẩm định hồ sơ cấp phép, cơ quan cấp phép có trách nhiệm xem xét việc thu hồi giấy phép.
Lên phía trên
Chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Việc chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 39, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, việc chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước được quy định như sau:
1. Điều kiện của tổ chức, cá nhân chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước:
a) Tính đến thời điểm chuyển nhượng, tổ chức, cá nhân chuyển nhượng đã hoàn thành công tác xây dựng cơ bản, đưa công trình khai thác vào hoạt động;
b) Tính đến thời điểm chuyển nhượng, tổ chức, cá nhân đề nghị chuyển nhượng đã hoàn thành nghĩa vụ về tài chính quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 43 của Luật tài nguyên nước và đã nộp đủ tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định; không có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động khai thác tài nguyên nước;
c) Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng đã nộp đủ hồ sơ cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước còn hiệu lực ít nhất là một trăm hai mươi (120) ngày.
2. Điều kiện của tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước:
a) Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng có đủ điều kiện quy định tại Điều 20 của Nghị định này;
b) Bảo đảm không làm thay đổi mục đích khai thác, sử dụng nước.
3. Việc chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước được thể hiện bằng hợp đồng giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật dân sự và có các nội dung chính sau đây:
a) Hiện trạng số lượng, khối lượng, giá trị công trình khai thác, hạ tầng kỹ thuật đã đầu tư, xây dựng; tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính của tổ chức, cá nhân chuyển nhượng tính đến thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng;
b) Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng trong việc thực hiện tiếp các công việc, nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân chuyển nhượng chưa hoàn thành tính đến thời điểm chuyển nhượng.
4. Hồ sơ chuyển nhượng bao gồm:
a) Đơn đề nghị chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước;
b) Hợp đồng chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước;
c) Báo cáo kết quả khai thác tài nguyên nước và việc thực hiện các nghĩa vụ đến thời điểm đề nghị chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước;
d) Bản sao (chứng thực) giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước; trường hợp bên nhận chuyển nhượng là doanh nghiệp nước ngoài còn phải có bản sao (chứng thực) quyết định thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam.
5. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng:
a) Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng nộp hai (02) bộ hồ sơ cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ; trường hợp hồ sơ không đầy đủ, chưa hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ trả lại hồ sơ và có văn bản nêu rõ lý do;
b) Trong thời hạn hai mươi (20) ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xem xét, quyết định và cấp lại giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng. Thời hạn của giấy phép được cấp lại bằng thời hạn còn lại của giấy phép đã được cấp trước đó.
Trường hợp đề nghị chuyển nhượng không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận thì tổ chức, cá nhân chuyển nhượng được tiếp tục thực hiện giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước hoặc trả lại giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
6. Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước phải thực hiện nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
 
Lên phía trên
Hướng dẫn thuế suất thuế tài nguyên nước biển khai thác để xử lý thành nước ngọt
Câu hỏi:
Ngày 11/1/2017, Tổng cục Thuế nhận được Công văn số 149/CT-KTT2 ngày 11/1/2017 của Cục Thuế tỉnh Bình Thuận nêu vướng mắc về việc áp dụng thuế suất thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác xử lý nước biển thành nước ngọt của Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên Tổng công ty phát điện 3 – Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân.
Trả lời:

Về vấn đề này, ngày 10/4/2017, Tổng cục Thuế có Công văn số 1329/TCT-DNL giải đáp như sau: Tại Khoản 5, Điều 2 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên quy định về đối tượng chịu thuế:
 

“Nước thiên nhiên bao gồm: Nước mặt và nước dưới đất; trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy…”

Mục 3.1 Phần V Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định thuế suất thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên là nước mặt dùng cho sản xuất nước sạch là 1%, dùng cho mục đích khác là 3%.

Đồng thời, tại Khoản 12 Điều 2 Chương I Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội quy định: “Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân khai thác, xử lý nước biển thành nước sạch đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam hiện hành thì áp dụng thuế suất thuế tài nguyên đối với nước biển dùng cho sản xuất nước sạch với mức thuế suất là 1%. Trường hợp Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân khai thác nước biển để xử lý thành nước ngọt phục vụ hoạt động của Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thì áp dụng thuế suất thuế tài nguyên với mức thuế suất là 3%.

Lên phía trên
Cơ chế đặc thù hỗ trợ đối ứng cho các địa phương khi thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, tại khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh trên địa bàn… Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản của lĩnh vực tài nguyên nước đòi hỏi có nguồn kinh phí lớn, cử tri đề nghị Chính phủ có cơ chế đặc thù như trợ cấp hoặc hỗ trợ đối ứng cho các địa phương khi thực hiện nhiệm vụ này.
Trả lời:

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật Tài nguyên nước, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước có 07 hoạt động. Kinh phí cho điều tra cơ bản tài nguyên nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm (Khoản 1 Điều 10 của Luật Tài nguyên nước), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước của địa phương (Khoản 3 Điều 10 và Điểm g Khoản 1 Điều 71 của Luật tài nguyên nước).

Hiện tại, Chính phủ chưa xây dựng cơ chế đặc thù cho các địa phương khi thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên nước. Do vậy, tùy thuộc vào nguồn lực của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ nghiên cứu, rà soát để lựa chọn hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước phù hợp với sự phát triển của địa phương và hiệu quả với nguồn kinh phí được cấp hàng năm.
Lên phía trên
Đề nghị xem xét điều chỉnh khái niệm về nước sinh hoạt và nước sạch tại khoản 11, khoản 12 Điều 2 Luật Tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Hiện nay, việc đánh giá, phân loại nước ăn uống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất do có sự khác nhau về khái niệm nước hợp vệ sinh. Đề nghị xem xét điều chỉnh khái niệm về nước sinh hoạt và nước sạch tại khoản 11, khoản 12 Điều 2 Luật Tài nguyên nước cho phù hợp với tình hình thực tiễn?
Trả lời:

Trả lời:

Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã quy định: “Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người” (Khoản 11 Điều 2).

“Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam” (Khoản 12 Điều 2).

Như vậy, nước sinh hoạt có thể hiểu là nước sạch đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam hoặc nước đã được xử lý, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước dùng cho sinh hoạt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Luật Tài nguyên nước không dùng khái niệm “Nước hợp vệ sinh”. Do vậy, căn cứ vào quy định tại Khoản 11 và Khoản 12 Điều 2 của Luật Tài nguyên nước, quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam, thành phố sẽ đánh giá, phân loại nước dùng cho sinh hoạt trên địa bàn phù hợp với quy định hiện hành.
Lên phía trên
Đề nghị làm rõ về việc UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương cho phép doanh nghiệp san lấn lấp bờ sông Đồng Nai, đã ảnh hưởng đến các tỉnh trong vùng?
Câu hỏi:
Vừa qua trên các phương tiện có nhiều bài báo viết về việc UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương cho phép doanh nghiệp san lấn lấp bờ sông Đồng Nai, đã ảnh hưởng đến các tỉnh trong vùng. Cử tri cho rằng, việc san lấp một phần bờ sông Đồng Nai không phải là vấn đề riêng của tỉnh Đồng Nai mà thuộc phạm vi cả nước. Cử tri đề nghị làm rõ sự việc trên ở tỉnh Đồng Nai đúng hay sai có thông báo cho cử tri cả nước biết?
Trả lời:
Trả lời:

(1) Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng (tại Văn bản số 2089/VPCP-KTN ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Văn phòng Chính phủ) giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai và các cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2015. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ:

- Thành lập Tổ công tác liên ngành với thành viên là đại diện của các Bộ nêu trên, lấy ý kiến của các Bộ về việc tuân thủ quy định của các pháp luật có liên quan đến Dự án thuộc phạm vi quản lý của Bộ, về những vấn đề kỹ thuật Dự án cần tuân thủ, các vấn đề tồn tại và đề xuất xử lý;

- Ngày 21/4/2015, Tổ công tác liên ngành đã khảo sát thực tế và làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai về Dự án;

- Ngày 29/5/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả kiểm tra liên ngành về Dự án tại công văn số 2159/BTNMT-TNN;

(2) Tại Công văn số 2159/BTNMT-TNN, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những nội dung liên quan đến Dự án như sau:

(a) Việc thực hiện Dự án được xuất phát từ chủ trương chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hoá, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, đã có sự thống nhất của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

(b) Dự án đã tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, xây dựng, đầu tư, giao thông đường thủy và đã có đánh giá tác động môi trường. Trước đó, năm 2008 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ, năm 2009 UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt Báo cáo.

Tuy nhiên, còn một số vấn đề Dự án chưa tuân thủ chặt chẽ các quy định hiện hành trong các lĩnh vực kể trên: Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa đã xác định khu đất Dự án lấn sông Đồng Nai khi chưa thực hiện quy trình điều chỉnh cục bộ các nội dung liên quan đến đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên Hòa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 227/2003/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2003 (ý kiến của Bộ Xây dựng).

(c) Việc tuân thủ pháp luật khí tượng thuỷ văn

Trạm thủy văn Biên Hòa đặt giữa khu vực san lấp lấn sông tạo mặt bằng của Dự án. Dự án thực hiện sẽ phải di dời trạm thuỷ văn và như vậy sẽ ảnh hưởng cả chuỗi số liệu đã có trong quá khứ.

Theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai ban hành ngày 15 tháng 8 năm 2014, quy định các trạm thủy văn phải dự báo lũ cùng các cấp báo động tương ứng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ chịu trách nhiệm dự báo, trong đó có trạm Biên Hòa. Do đó khi trạm di dời sẽ phải tính toán lại các cấp báo động lũ.

(d) Việc tuân thủ pháp luật tài nguyên nước

Dự án chưa làm rõ sự tuân thủ các quy định tại Điều 9, Điều 63 Luật Tài nguyên nước năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013) về bảo đảm thoát lũ; sự lưu thông dòng chảy; không gây sạt lở bờ sông. Theo quy định tại Điều 72 của Luật Tài nguyên nước và Điều 42 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai thuộc hoạt động gia cố bờ sông, cải tạo cảnh quan, phát triển vùng đất ven sông trên lưu vực sông liên tỉnh phải lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong quá trình triển khai, Dự án chưa lấy ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án và Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy đều chưa làm rõ hoặc chưa nghiên cứu, đánh giá đầy đủ để có thể định lượng các tác động của Dự án tới thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông làm cơ sở thực hiện Dự án, cụ thể như sau:

- Đặt bài toán và giải bài toán:

+ Đặt bài toán chưa đầy đủ, chưa xem xét quá trình diễn biến lòng dẫn trong nhiều năm, nhiều thời kỳ.

+ Các phương án công trình đưa ra trong báo cáo chưa xem xét đến việc đánh giá ổn định lòng dẫn trên toàn tuyến, đặc biệt vị trí đoạn bờ đối diện công trình, chưa đánh giá được sự thu hẹp lòng dẫn ở phần chân do vấn đề san lấp gây ra.

+ Chưa xét đến trường hợp tính toán khi có lũ lớn trên sông Đồng Nai kết hợp với triều cường, đặc biệt khi có xả lũ của các hồ chứa phía thượng nguồn.
- Về số liệu đầu vào:

+ Số liệu địa hình, thủy văn (lưu tốc mực nước tại 3 mặt cắt: Biên Hòa hạ lưu cầu Ghềnh, hạ lưu cầu Rạch Cát được thực hiện trong tháng 9 năm 2008 (4 ngày) chưa đáp ứng được yêu cầu bài toán đánh giá tác động dòng chảy do Dự án gây ra trên sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh.

+ Thời gian mô phỏng diễn biến chỉ tính toán trong các ngày từ 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 là chưa đủ, đặc biệt chưa đánh giá mô phỏng với lưu lượng ổn định lòng dẫn (lưu lượng tạo lòng).

+ Mô hình thủy lực mới chỉ được hiệu chỉnh trên cơ sở chuỗi số liệu thực đo từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 chưa phản ánh được các trường hợp đặc trưng như lũ lớn, mực nước cao nên chưa đủ thuyết phục. Kết quả hiệu chỉnh mới chủ yếu  dựa vào mực nước và lưu lượng. Chưa có hiệu chỉnh về biến động lòng dẫn.

Để thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân  tỉnh Đồng Nai là chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hóa, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã chủ động tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ (50m, 75m và 100m), phê duyệt kết quả nghiên cứu (từ năm 2009). Trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã triển khai việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng và triển khai các bước để hình thành Dự án.

Mặc dù trong Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Tư vấn lập báo cáo và Tư vấn thẩm tra đều kết luận: việc xây dựng các công trình lấn sông ở khu vực từ Cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh theo các phương án lấn sông 50m, 75m và 100m không làm thay đổi đáng kể về chế độ thuỷ lực của dòng chảy đoạn sông, không làm ảnh hưởng xấu đến sự thay đổi dòng chảy và tác động đến các đoạn bờ lân cận, nhưng trong phần kiến nghị, Tư vấn lập Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy cũng cho rằng kết quả tính toán mới dừng ở mức sơ bộ, cần tiếp tục nghiên cứu thêm.

Bên cạnh đó, khi thẩm tra Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Viện Thủy lợi và Môi trường thuộc Trường Đại học Thủy lợi đã nhận xét: "Các kết quả tính toán của  đơn vị tư vấn mới dừng ở mức nghiên cứu sơ bộ, chưa đưa ra cơ sở, luận cứ lựa chọn phương án tính toán, phần thuyết minh tính toán bằng mô hình cần làm rõ cụ thể theo các bước thực hiện, từ việc xác định lưới, xây dựng miền địa hình tính toán, xác định các điều kiện ban đầu và điều kiện biên, hiệu chỉnh xác định bộ thông số mô hình và kiểm định mô hình. Trên cơ sở đó mới có luận cứ khoa học để đánh giá tính khả thi của các phương án đưa ra. Vì vậy, đơn vị thẩm định đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao độ chính xác và các phương án tính toán kiểm tra thêm khi đi vào xây dựng công trình".

 Như vậy, việc dựa vào kết luận của Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy để triển khai thực hiện Dự án là chưa đủ cơ sở khoa học tin cậy.

 Trong quá trình chuẩn bị đầu tư và phê duyệt Dự án, Chủ đầu tư đã tổ chức lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt (tháng 5 năm 2014), trên cơ sở đó UBND tỉnh Đồng Nai đã chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án (tháng 7 năm 2014). Mặc dù Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án cũng đã đánh giá, dự báo bổ sung về những tác động chính đến chế độ dòng chảy sông Đồng Nai của việc xây dựng kè, nhưng còn sơ sài (nội dung đánh giá tác động đến chế độ dòng chảy chỉ thể hiện từ trang 73 đến trang 76, gồm cả hình vẽ) những vấn đề về đặt bài toán, giải bài toán và số liệu đầu vào như đã nêu trên vẫn chưa được bổ sung, hoàn chỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu.

Việc lấn sông để phát triển đô thị sẽ có những tác động đến dòng chảy, mức độ tác động tùy thuộc vào kết quả nghiên cứu tiếp theo. Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của Dự án, làm cơ sở quyết định việc tiếp tục thực hiện hay dừng Dự án, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục dừng thực hiện Dự án.

- Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, đặc biệt là vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông.

(3) Ngày 17 tháng 6 năm 2015, tại Công văn số 4520/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ về việc Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh Đồng Nai xử lý các nội dung liên quan đến Dự án. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, đặc biệt là các tác động của Dự án tới dòng chảy sông Đồng Nai như vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, xói, bồi, sạt lở lòng, bờ, bãi sông và chất lượng nước sông Đồng Nai.

Ngày 30 tháng 7 năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Hội đồng thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án và yêu cầu UBND tỉnh Đồng Nai cung cấp tài liệu, báo cáo có liên quan cho các thành viên Hội đồng. Hội đồng có nhiệm vụ rà soát các vấn đề còn tồn tại, kiến nghị những nội dung cần làm rõ trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường để làm căn cứ cho Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.
Lên phía trên
Về việc giải quyết việc xả nước thải, chất thải từ Thành phố Hà Nội về sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục đề nghị quan tâm, xem xét, giải quyết việc xả nước thải, chất thải từ Thành phố Hà Nội về sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang làm nước có màu đen, cá chết bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân (Cử tri các tỉnh, thành phố: Hà Nam, Hà Nội 2015)
Trả lời:
Theo Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 trả lời về vấn đề này như sau:

Ô nhiễm nước sông Nhuệ - sông Đáy chủ yếu do nước thải sinh hoạt từ các đô thị và nước thải công nghiệp của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các làng nghề trên lưu vực các sông gây ra. Để bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020” (sau đây viết tắt là Đề án). Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án tại Quyết định số 1435/QĐ-TTg ngày 18/8/2014; Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực gồm: Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình triển khai nhiều giải pháp thực hiện Đề án nêu trên.

Việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải của Thành phố Hà Nội vào sông Nhuệ, sông Đáy và sông Châu Giang đã và đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quan tâm thực hiện, các hoạt động đã và đang được triển khai thời gian qua như sau:

1. Tăng cường quản lý và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội:

Trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy tại địa bàn Thành phố Hà Nội hiện có 03/03 khu công nghiệp (xả nước thải vào sông Nhuệ - sông Đáy) đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 07/17 cụm công nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải; 10/17 cụm công nghiệp còn lại đang xây dựng và chuẩn bị triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải; trong đó Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng trạm xử lý nước thải cụm làng nghề tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, công suất thiết kế 13.000 m3/ngày đêm.

2. Thúc đẩy triển khai các dự án xử lý nước thải sinh hoạt:

- Các dự án đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt đã xây dựng và đi vào vận hành gồm: trạm xử lý nước thải Kim Liên, Trúc Bạch công suất 6.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Yên Sở công suất 200.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Hồ Tây công suất 15.000 m3/ngày đêm.

- Các dự án đang đầu tư xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng gồm: trạm xử lý nước thải Bảy Mẫu công suất 13.300 m3/ngày đêm; hệ thống xử lý nước thải Yên Xá công suất 270.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô công suất 84.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải làng nghề và sinh hoạt tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức công suất 4.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức công suất dự kiến 8.000 m3/ngày đêm.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang phối hợp với Thành phố Hà Nội để triển khai các dự án thí điểm xử lý nước thải sinh hoạt quy mô vừa và nhỏ, bao gồm:

- Dự án xây dựng trạm xử lý nước thải sông Nhuệ công suất 400 m3/ngày đêm tại 02 thôn Phú Hà, Phú Thứ, Quận Nam Từ Liêm, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2014.

- Dự án xây dựng trạm xử lý nước thải tại một số điểm xả thải vào sông Nhuệ, công suất dự kiến 1.500 – 2.000 m3/ngày đêm.

3. Thực hiện việc tiếp nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ qua công Liên Mạc (Từ Liêm) và vào sông Đáy qua trạm bơm Bá Giang (Đan Phượng) trong các tháng mùa khô để góp phần cải thiện chất lượng nước sông Nhuệ - sông Đáy.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý triệt để các nguồn thải gây ô nhiễm đang xả thải vào sông Nhuệ, sông Đáy trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng và trên toàn lưu vực nói chung. Đồng thời, Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và các Bộ, ngành liên quan thúc đẩy triển khai các dự án thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân.
 
Lên phía trên
Vv Cử tri phản ánh, việc ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, nhà máy xả khói bụi, khí thải và nước bẩn chưa qua xử lý
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, việc ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, nhà máy xả khói bụi, khí thải và nước bẩn chưa qua xử lý; vấn đề nước thải và rác thải ở nông thôn hiện nay ngày càng phức tạp; gây bức xúc cho môi trường và xã hội; xong vấn đề quy hoạch hệ thống xử lý, thu gom, tiêu thoát chưa có hoặc chưa đáp ứng thực tiễn hiện nay, đề nghị Nhà nước cần có biện pháp đồng bộ để xử lý ô nhiễm môi trường ở nông thôn và các khu công nghiệp, vì đây là vấn đề toàn xã hội trong quá trình phát triển (Cử tri các tỉnh: Hà Nam, Hưng Yên)
Trả lời:
Theo Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 Bộ Tài nguyên và Môi tường trả lời về vấn đề này như sau:
Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết an sinh xã hội thì bảo vệ môi trường luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của Đảng và Chính phủ. Bộ Tài nguyên và Môi trường với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã và đang hoàn thiện, đồng bộ hóa các biện pháp bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường các khu công nghiệp, đô thị, nông thôn cũng như khu dân cư tập trung nói riêng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng hoàn thiện góp phần tích cực cùng với các giải pháp kinh tế kỹ thuật để cải thiện chất lượng môi trường tại các khu vực này. Đặc biệt, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 với những quy định cụ thể sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý tốt hơn chất lượng môi trường; trong đó có khu công nghiệp (Điều 66), khu vực nông thôn (Điều 69,70 và 71). Để hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó quy định cụ thể các yêu cầu về quản lý nước thải, khí thải và chất thải rắn đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường trong đó Chương IV về bảo vệ môi trường làng nghề; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Bên cạnh các công cụ pháp lý, các công cụ kinh tế như thuế, phí bảo vệ môi trường cũng đã được đẩy mạnh áp dụng như phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn,… Đặc biệt, các biện pháp, chế tài mạnh khác cũng đã và đang từng bước được thực thi có hiệu quả như thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường), điều kiện quan trắc môi trường đối với đơn vị tư vấn (Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn quan trắc môi trường), quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao); bảo vệ môi trường làng nghề (Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trường làng nghề)…

Các công cụ pháp lý, công cụ kinh tế kết hợp với các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức, kiến thức cho các bên liên quan trong quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu vực nông thôn, làng nghề,…. đã tạo những chuyển biến nhất định trong công tác bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng môi trường tại các khu vực nói trên.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song kết quả này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tại nhiều địa phương vẫn xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường do phát triển sản xuất các khu công nghiệp, nông thôn ảnh hưởng tới đời sống cộng đồng, sức khỏe nhân dân. Qua các đợt thanh tra, kiểm tra, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều vụ việc các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp xả chất thải không hoặc chưa xử lý đạt quy chuẩn gây ô nhiễm môi trường đã bị phát hiện và xử phạt như khu công nghiệp Hiệp Phước – Thành phố Hồ Chí Minh (2012), khu công nghiệp Trảng Bàng – Tây Ninh (2013), khu công nghiệp Suối Dầu – Khánh Hòa (2014),…; tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, do hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp núp bóng làng nghề, đặc biệt là các “làng nghề” tái chế phế liệu. Một số nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại nói trên như sau:

- Phân công trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan liên quan chưa rõ ràng, còn chồng chéo chức năng thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền phổ biến pháp luật giữa các bên, ví dụ: trong quản lý môi trường nông thôn giữa các Bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị được giao trách nhiệm quản lý môi trường nói chung và bảo vệ môi trường làng nghề nói riêng (Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/03/2013 của Chính phủ); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn (Khoản 21 Điều 2 Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ). Bên cạnh đó, giữa các Bộ, ngành và giữa các cơ quan ở địa phương cũng chưa ban hành, thực thi có hiệu quả các quy chế phối hợp.

- Việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân chưa nghiêm, trong khi một số văn bản pháp luật ban hành chưa kịp thời, thậm chí chưa phù hợp với thực tiễn và hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu vực nông thôn.

- Ý thức, trách nhiệm và khả năng bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất còn hạn chế, đặc biệt là các cơ sở tại khu vực nông thôn, làng nghề. Trách nhiệm bảo vệ môi trường nông thôn đến nay chủ yếu là lồng ghép vào chức năng quản lý ngành nên việc thực thi đối với quy định về bảo vệ môi trường không được ưu tiên so với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác. Các cơ quan quản lý địa phương chưa thực sự quan tâm, chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường khu vực nông thôn, đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn.

- Công tác giám sát đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải các khu công nghiệp của Ủy ban nhân dân tỉnh, đặc biệt là của Ban Quản lý các khu công nghiệp các tỉnh, thành phố chưa quyết liệt và hiệu quả.

- Đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường chưa được coi trọng đúng mức ngay từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi thi công, vận hành dự án.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ các giải pháp pháp lý đến các giải pháp về kinh tế, công nghệ; đặc biệt sẽ nghiên cứu xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích đi đôi với các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường khu công nghiệp, nông thôn, làng nghề. Một số nhiệm vụ trọng tâm cụ thể như sau:
- Xây dựng các quy định hướng dẫn công khai thông tin, vận hành hệ thống quan trắc môi trường tự động trong khu công nghiệp; xây dựng các chế tài, công cụ kinh tế quản lý hiệu quả môi trường khu vực nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

- Tăng cường thanh, kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hướng dẫn, thẩm định, lựa chọn các công nghệ sản xuất phù hợp với từng loại hình sản xuất trong khu công nghiệp, khu vực nông thôn, làng nghề.

- Tăng cường đôn đốc, chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu công nghiệp; giám sát chặt chẽ việc thu hút đầu tư các ngành nghề phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt để giảm thiểu rủi ro trong quá trình thiết kế, thi công và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu vực nông thôn cho các đối tượng là Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp, các chủ đầu tư và chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp, khu vực nông thôn.

* Đối với khu vực nông thôn, bên cạnh các giải pháp về cơ chế, chính sách nêu trên, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Trung ương và địa phương cần tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp sau:

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn xây dựng quy chế quản lý, hương ước, quy ước nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách và huy động sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, thực hiện chính sách khuyến khích và các biện pháp chế tài trong quản lý môi trường khu vực nông thôn; cơ chế hỗ trợ phát triển của tổ chức dịch vụ môi trường nông thôn.

- Kiện toàn đội ngũ cán bộ thực thi công tác bảo vệ môi trường các cấp, đặc biệt là cấp xã, cấp huyện về cả số lượng và trình độ chuyên môn; nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động của các tổ chức dịch vụ môi trường; huy động sự tham gia, theo dõi, giám sát của các tổ chức đoàn thể tại địa phương.

- Tiếp tục huy động nguồn tài chính, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác (tổ chức quốc tế, xã hội hóa,…) cho hoạt động bảo vệ môi trường khu vực nông thôn; tập trung vào các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường,…

-  Tăng cường xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn, nâng cao trách nhiệm tham gia, đóng góp của các cá nhân, hộ gia đình và các cơ sở sản xuất trên địa bàn khu vực.

- Lựa chọn các công nghệ, giải pháp phù hợp với điều kiện khu vực nông thôn hoặc các mô hình đã vận hành có hiệu quả trước khi phổ biến, nhân rộng; ưu tiên các biện pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn phát sinh, tăng cường tận thu, tái chế, tái sử dụng chất thải trong nông nghiệp, sản xuất làng nghề.
Lên phía trên
Vv giải pháp tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế rủi ro sự tác động do biến đổi khí hậu gây ra
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ cần có giải pháp tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế rủi ro sự tác động do biến đổi khí hậu gây ra (Cử tri tỉnh Long An)
Trả lời:

Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời về vấn đề này như sau:

Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có những giải pháp tích cực nhằm ứng phó với biển đổi khí hậu và giảm rủi ro do các tác động của biến đổi khí hậu. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt một số văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác ứng phó với biển đổi khí hậu như Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2008-2012 và 2012-2015, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ cacbon rat hị trường thế giới.

Thực hiện nghĩa vụ của một nước thành viên tham gia Công ước khí hậu, Việt Nam đã gửi Ban Thư ký Công ước các Thông báo quốc gia lần thứ nhất và thứ hai và Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất. Các báo cáo này cung cấp thông tin về bối cảnh quốc gia, kiểm kê quốc gia khí nhà kính và đề xuất các biện pháp giảm nhẹ phát thải trong các lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội như năng lượng, giao thông, nông nghiệp, lâm nghiệp và chất thải, tình hình thực hiện các cơ chế song phương và đa phương và việc áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường tại Việt Nam nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, đã đưa ra các thông tin về tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực phát triển kinh tế như tài nguyên nước, vùng ven biển, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông và sức khỏe cộng đồng và đề xuất các biện pháp thích ứng…

 Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện Báo cáo “Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định”. Báo cáo gồm thông tin về các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu sẽ được thực hiện trong thời gian tới, sử dụng nguồn lực trong nước và có thể đạt được mục tiêu cao hơn nếu nhận được nguồn hỗ trợ từ quốc tế.

Thông qua các báo cáo nêu trên, Chính phủ Việt Nam đã tái khẳng định cam kết tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu dựa trên các nguồn lực trong nước và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu của Công ước khí hậu nhằm làm giảm rủi ro do các tác động của biến đổi khí hậu gây ra và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Nguyễn Phước Lộc tại kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Sau khi nghe Bộ trưởng nói nhằm tăng cường quản lý giám sát, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường các dòng sông nên đã tham mưu Chính phủ lập Ủy ban lưu vực sông. Nhưng theo chúng tôi được biết, Ủy ban này hoạt động theo cơ chế Chủ tịch UBND tỉnh tham gia vào Uỷ ban và luân phiên hàng năm Chủ tịch UBND tỉnh này làm chủ tịch, chịu trách nhiệm điều phối và điều hành toàn bộ hoạt động. Như vậy, nó có bị cắt khúc, không toàn diện, không đồng bộ và không thống nhất, vì vậy vấn đề quản lý hiệu quả các hoạt động của lưu vực của Ủy ban các dòng sông này có hiệu quả không, xin Bộ trưởng làm rõ?
Trả lời:
Toàn văn câu Trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Hoàng Văn Cường tại Hội trường Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Liên quan đến ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long vừa qua, đây không phải là vấn đề ngẫu nhiên mà thực ra là một vấn đề đã cảnh báo từ 20 năm trước đây, Uỷ ban sôgn Mê Công đã cảnh báo khi Trung Quốc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn, khi Lào xây dựng các đập ở giữa nguồn, Thái Lan đã xây dựng công trình để điều chuyển hướng dòng chảy, còn Việt nam chưa thấy có hành động gì. Vậy, tình trạng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long vừa qua chúng ta có nói là thiên tai, xin hỏi Bộ trưởng đây có đúng là thiên tai hay không, hay là chúng ta đã chậm phản ứng đối với những vấn đề đã được cảnh báo từ trước và trong tương lai Bộ trưởng có kế hoạch gì cho đồng bằng sông Cửu Long này, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà tại hội trường kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Vừa qua nhân dân và cử tri cả nước rất bức xúc về tình trạng ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng cảu các dòng sông diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương, nổi lên là hoạt động xả thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng của Tập đoàn khoáng sản Á Cường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Cẩm Đàn. Vụ nhà máy tinh bột sắn Hòa Bình xả thải gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Bưởi, tỉnh Thanh Hóa làm chết dần những dòng sông, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, sức khỏe, đời sống và gây tâm lý bất an cho nhân dân, ảnh hưởng tới an ninh trật tự ở nhiều địa phương, xin Bộ trưởng cho biết trách nhiệm của Bộ trưởng để xảy ra tình trạng trên và giải pháp khắc phục?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của DDBQH Nguyễn Thanh Phương tại hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Vấn đề hạn mặn xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng đầu năm 2016 đã làm thiệt hại hơn 400 ngành ha lúa, 80 ngàn ha thủy sản và một số cây trồng, vật nuôi khác. Có thế xem đây là một tín hiệu đáng lo ngại và có thể lặp lại ở các năm tới. Một trong những vấn đề nổi cộm lên từ sự việc này đó là thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt đến mức chúng ta phải kêu gọi các nước bạn xả nước. Xin hỏi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những tính toán cho vấn đề bảo vệ, quản lý, tích lũy và sử dụng nguồn nước ngọt cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa? Nếu có thì Bộ trưởng có thể khái quát các giải pháp này?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trươgnr Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Nguyễn Văn Hiển tại Hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, nhiều tỉnh đã phải ban bố tình trạng thiên tai. Nguyên nhân là do thiên tai, biến đổi khí hậu là chính, nhưng do nhân tai nhiều, nhất là việc xây dựng các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn các sông, các quốc gia thượng nguồn sông Mê Công đang xây dựng nhiều đạp thủy điện có công suất lớn, trực tiếp làm ảnh hưởng, thay đổi đến dòng chảy, chu kỳ, đe dọa đến an ninh lương thực và đời sống của hàng triệu người dân. Vậy đề nghị Bộ trưởng cho biết có giải pháp nào cụ thể cho từng vùng, nhất là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long để thích ứng bền vững và chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu và ảnh hưởng tiêu cực của các nhà máy thủy điện?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Phùng Văn Hùng tại hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Dự án cải tạo và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai do UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt với diện tích lấp sông dự kiến 77.000 m2 nhằm xây dựng khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn, khu dân cư với hàng trăm ngànt ấn đất đá đổ xuống sông, 80% diện tích lập sông đã hoàn thành, chỗ xa nhất tới 100m, dự án bị đình chỉ, bị sức ép của dư luận do nguy cơ ảnh hưởng tới dòng chảy, khả năng thoát lũ của sông và môi trường khu vực lưu vực sôgn Đồng Nai. Tháng 6/2015, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môit rường rà soát, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án, đến nay vẫn rơi vào im lặng. Theo ý kiến của các chuyên gia, đây là dự án có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi tường nhưng không thuộc thẩm quyền phê duyệt của chính quyền địa phương. Đề nghị Bộ cho biết việc phê duyệt thực hiện dự án đó đúng hay sai? Sao lại có việc chậm trễ trong việc triển khai thực hiện chỉ đạo của nguyên Thủ tướng Chính phủ và trả lời công khai trước công luận? Để xảy ra vụ việc trên thì trách nhiệm của Bộ và chính quyền Đồng Nai như thế nào? Giải pháp xử lý tiếp theo ra sao?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước?
Trả lời:

Theo Điều 4, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thông báo không đủ nội dung theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi của người phụ trách kỹ thuật của đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước cùng một thời điểm thực hiện từ 03 đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước hoặc từ 04 dự án lập quy hoạch tài nguyên nước trở lên.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực thông tin trong hồ sơ năng lực lập đề án, báo cáo trong thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước trong thời hạn từ 01 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước?
Trả lời:

Theo Điều 5, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thông báo không đủ nội dung theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Cùng một thời điểm thực hiện từ 04 đề án, báo cáo trở lên của người phụ trách kỹ thuật của đề án, báo cáo;

b) Cùng một thời điểm thực hiện từ 02 đề án, báo cáo trở lên của cá nhân tư vấn độc lập.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực thông tin trong hồ sơ năng lực lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước trong thời hạn từ 01 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước?
Trả lời:

Theo Điều 6, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước như sau:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo kết quả quan trắc, giám sát cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không lưu trữ thông tin, số liệu quan trắc theo quy định;

b) Không quan trắc dưới 25% các thông số phải quan trắc theo quy định.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không quan trắc từ 25% đến dưới 50% các thông số phải quan trắc theo quy định.

4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không quan trắc từ 50% đến dưới 75% các thông số phải quan trắc theo quy định.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không quan trắc từ 75% các thông số phải quan trắc trở lên theo quy định;

b) Không lắp đặt thiết bị quan trắc theo quy định;

c) Quan trắc không đúng tần suất theo quy định;

d) Quan trắc không đúng thời gian theo quy định;

đ) Quan trắc không đúng vị trí theo quy định;

e) Không thực hiện việc kết nối, truyền tải dữ liệu quan trắc, giám sát với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

6. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không thực hiện quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo quy định;

b) Làm sai lệch số liệu quan trắc, giám sát tài nguyên nước.

7. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đăng ký, không có giấy phép theo quy định
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đăng ký, không có giấy phép theo quy định?
Trả lời:
Theo Điều 7, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đăng ký, không có giấy phép theo quy định như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thăm dò, khai thác nước dưới đất thuộc các trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định.

2. Phạt tiền đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép, cụ thể như sau:
a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép đối với công trình gồm 01 giếng khoan;
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép đối với công trình gồm 02 giếng khoan;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép đối với công trình gồm 03 giếng khoan;
d) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép đối với công trình gồm 04 giếng khoan;
đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò nước dưới đất không có giấy phép đối với công trình gồm từ 05 giếng khoan trở lên.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng trên 10 m3/ngày đêm đến dưới 30 m3/ngày đêm.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:

a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 30 m3/ngày đêm đến dưới 50 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng trên 0,1 m3/giây đến dưới 0,2 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng trên 100 m3/ngày đêm đến dưới 1.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy trên 50 kW đến dưới 500 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng trên 10.000 m3/ngày đêm đến dưới 30.000 m3/ngày đêm.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:

a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 50 m3/ngày đêm đến dưới 100 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 0,2 m3/giây đến dưới 0,3 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 1.000 m3/ngày đêm đến dưới 2.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 500 kW đến dưới 1.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 30.000 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm.
6. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 100 m3/ngày đêm đến dưới 200 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 0,3 m3/giây đến dưới 0,5 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 2.000 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 1.000 kW đến dưới 2.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 50.000 m3/ngày đêm đến dưới 100.000 m3/ngày đêm.

7. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 200 m3/ngày đêm đến dưới 400 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 0,5 m3/giây đến dưới 1 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm đến dưới 10.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 2.000 kW đến dưới 5.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 100.000 m3/ngày đêm đến dưới 200.000 m3/ngày đêm.

8. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 400 m3/ngày đêm đến dưới 800 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 1 m3/giây đến dưới 1,5 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 10.000 m3/ngày đêm đến dưới 20.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 5.000 kW đến dưới 7.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 200.000 m3/ngày đêm đến dưới 300.000 m3/ngày đêm.

9. Phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 800 m3/ngày đêm đến dưới 1.000 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 1,5 m3/giây đến dưới 2 m3/giây;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 20.000 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 7.000 kW đến dưới 10.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 300.000 m3/ngày đêm đến dưới 400.000 m3/ngày đêm.

10. Phạt tiền từ 110.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 1.000 m3/ngày đêm đến dưới 1.500 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản với lưu lượng từ 2 m3/giây trở lên;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 50.000 m3/ngày đêm đến dưới 100.000 m3/ngày đêm;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 10.000 kW đến dưới 20.000 kW;
đ) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 400.000 m3/ngày đêm đến dưới 500.000 m3/ngày đêm.

11. Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng, đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 1.500 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 100.000 m3/ngày đêm đến dưới 200.000 m3/ngày đêm;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 20.000 kW đến dưới 30.000 kW;
d) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 500.000 m3/ngày đêm đến dưới 700.000 m3/ngày đêm.

12. Phạt tiền từ 170.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm đến dưới 5.000 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 200.000 m3/ngày đêm đến dưới 300.000 m3/ngày đêm;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 30.000 kW đến dưới 40.000 kW;
d) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 700.000 m3/ngày đêm đến dưới 1.000.000 m3/ngày đêm.

13. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 230.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 5.000 m3/ngày đêm đến dưới 12.000 m3/ngày đêm;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 300.000 m3/ngày đêm đến dưới 800.000 m3/ngày đêm;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 40.000 kW đến dưới 50.000 kW;
d) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 1.000.000 m3/ngày đêm đến dưới 2.000.000 m3/ngày đêm.

14. Phạt tiền từ 230.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau:
a) Khai thác, sử dụng nước dưới đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với lưu lượng từ 12.000 m3/ngày đêm trở lên;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 800.000 m3/ngày đêm trở lên;
c) Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 50.000 kW trở lên;
d) Khai thác, sử dụng nước biển phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đất liền với lưu lượng từ 2.000.000 m3/ngày đêm trở lên.

15. Hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi giấy phép đã hết hạn áp dụng mức xử phạt như trường hợp không có giấy phép quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 và khoản 14 Điều này.

16. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều này mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định của giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng TNN?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định của giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng TNN?
Trả lời:

Theo Điều 8, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định của giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng TNN như sau:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện chế độ báo cáo về kết quả thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp đầy đủ và trung thực các dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước tại khu vực thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo lý do cho cơ quan cấp phép trong trường hợp lượng nước thực tế khai thác của chủ giấy phép nhỏ hơn 70% so với lượng nước được cấp phép trong thời gian 12 tháng liên tục.

4. Đối với hành vi khai thác, sử dụng tài nguyên nước vượt quá lưu lượng quy định trong giấy phép thì phần lưu lượng vượt quá quy định áp dụng xử phạt theo quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 và khoản 14 Điều 7 của Nghị định này.

5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đúng mục đích theo quy định trong giấy phép;
b) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không theo chế độ quy định trong giấy phép;
c) Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đúng vị trí, tọa độ theo quy định trong giấy phép;
d) Khai thác, sử dụng nước mặt không đúng nguồn nước theo quy định trong giấy phép;
đ) Khai thác, sử dụng nước dưới đất không đúng tầng chứa nước theo quy định trong giấy phép;
e) Thi công các hạng mục thăm dò nước dưới đất vượt quá 10% so với khối lượng đã được phê duyệt.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa, khắc phục sự cố trong quá trình thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
b) Khai thác, sử dụng nước mặt không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu theo quy định trong giấy phép, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 7 Điều 11 của Nghị định này;
c) Khai thác, sử dụng nước dưới đất với mực nước động lớn hơn mực nước động cho phép theo quy định.

7. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thời gian giấy phép bị đình chỉ hiệu lực.

8. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm tại các khoản 3, 4, 5 và khoản 6 Điều này.

9. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất?
Trả lời:

Theo Điều 9, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thi công khoan khai thác nước dưới đất cho tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải đăng ký mà không thực hiện đăng ký theo quy định.

2. Phạt tiền từ 2.000.000.đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không thực hiện báo cáo tổng hợp các công trình khoan nước dưới đất định kỳ hàng năm theo quy định;
b) Không thông báo bằng văn bản về vị trí, quy mô công trình khoan nước dưới đất và thời gian dự kiến thi công cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định;
c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp có sự thay đổi về người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật, nội dung đăng ký hoạt động kinh doanh hoặc nhiệm vụ được giao theo quy định.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định về hành nghề khoan đối với công trình có đường kính ống chống hoặc ống vách nhỏ hơn 110 mm và có lưu lượng nhỏ hơn 200 m3/ngày đêm:

a) Cho mượn, cho thuê giấy phép;
b) Hành nghề khoan nước dưới đất không có giấy phép;
c) Hành nghề khoan nước dưới đất khi giấy phép đã hết hạn, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép theo quy định.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Thi công giếng khoan không theo đúng quy trình, thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt;
b) Thi công trám lấp giếng khoan không đúng kỹ thuật theo quy định;
c) Sử dụng nước thải, nước bẩn, nước có chứa dầu mỡ, hóa chất độc hại, phụ gia chứa hóa chất gây ô nhiễm làm dung dịch khoan hoặc pha trộn dung dịch khoan và đưa vào lỗ khoan;
d) Thi công trám lấp giếng khoan khai thác nước dưới đất có đường kính ống chống hoặc ống vách lớn hơn 60 mm hoặc chiều sâu từ 30 m trở lên không có giấy phép hành nghề khoan;
đ) Thực hiện hành nghề không đúng quy mô đã quy định trong giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất;
e) Thi công khoan thăm dò, khoan khai thác nước dưới đất cho tổ chức, cá nhân không có giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định hành nghề khoan nước dưới đất đối với công trình có đường kính ống chống hoặc ống vách nhỏ hơn 250 mm và có lưu lượng từ 200 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm:

a) Cho mượn, cho thuê giấy phép;
b) Hành nghề khoan nước dưới đất không có giấy phép;
c) Hành nghề khoan nước dưới đất khi giấy phép đã hết hạn, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ xin gia hạn theo quy định.

6. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm các quy định về hành nghề khoan nước dưới đất với quy mô khác với quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều này:

a) Cho mượn, cho thuê giấy phép;
b) Hành nghề khoan nước dưới đất không có giấy phép;
c) Hành nghề khoan nước dưới đất khi giấy phép đã hết hạn, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ xin gia hạn theo quy định.

7. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Tiếp tục khoan giếng khi gây sụt, lún đất hoặc gây sự cố bất thường khác ảnh hưởng đến công trình xây dựng và đời sống nhân dân trong khu vực thi công công trình;
b) Không xử lý, khắc phục sự cố sụt, lún đất hoặc sự cố bất thường khác ảnh hưởng đến công trình xây dựng và đời sống nhân dân trong khu vực thi công công trình.

8. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm tại điểm a khoản 3, điểm a khoản 4, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều này;
b) Đình chỉ hoạt động khoan thăm dò nước dưới đất trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm tại điểm e khoản 4 Điều này.

9. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3, 4, 5 và khoản 6 Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, c khoản 3, điểm b, c khoản 5, điểm b, c khoản 6 và khoản 7 Điều này mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước;
c) Buộc xử lý, khắc phục sự cố sụt, lún đất hoặc sự cố bất thường khác đối với hành vi vi phạm tại khoản 7 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước?
Trả lời:

Theo Điều 10, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước như sau:

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép.

2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước mà không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận.

3. Hình, thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về hồ chứa?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về hồ chứa?
Trả lời:
Theo Điều 11, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không bàn giao mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có hồ chứa theo quy định.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây với hồ chứa có dung tích dưới 1.000.000 m3:

a) Sử dụng mặt nước hồ chứa để nuôi trồng thủy sản, kinh doanh du lịch, giải trí không được cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước chấp thuận bằng văn bản;
b) Không thực hiện chế độ thông báo, báo cáo liên quan đến vận hành công trình theo quy định.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vi phạm một trong các quy định tại khoản 2 Điều này với hồ chứa có dung tích từ 1.000.000 m3 đến dưới 10.000.000 m3;
b) Không xây dựng phương án cắm mốc giới hành lang bảo vệ hồ chứa trong trường hợp chưa thực hiện việc cắm mốc giới.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Vi phạm một trong các quy định tại khoản 2 Điều này với hồ chứa có dung tích từ 10.000.000 m3 đến dưới 50.000.000 m3;
b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc quan trắc, giám sát dòng chảy tối thiểu theo quy định;
c) Không thực hiện hoặc thực hiện việc cắm mốc giới nhưng không đúng với phương án cắm mốc giới đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

5. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này với hồ chứa có dung tích từ 50.000.000 m3 đến dưới 100.000.000 m3.

6. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này với hồ chứa có dung tích từ 100.000.000 m3 trở lên.

7. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu theo quy định;
b) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng kế hoạch điều tiết nước hàng năm của hồ chứa;
c) Không thực hiện quan trắc khí tượng, thủy văn và tính toán, dự báo lượng nước đến hồ phục vụ vận hành hồ chứa;
d) Không xây dựng phương án phòng, chống lũ, lụt, hạn hán thiếu nước cho vùng hạ du;
đ) Không lắp đặt hệ thống cảnh báo, thông báo việc xả lũ của công trình;
e) Không đảm bảo duy trì mực nước theo quy định trong mùa lũ của quy trình vận hành hồ chứa được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
g) Vận hành xả nước với lưu lượng không đúng quy định của quy trình trong điều kiện thời tiết bình thường.

8. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 220.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không xây dựng phương án để đối phó với tình huống vỡ đập, các tình huống đe dọa nghiêm trọng đến an toàn công trình, tính mạng và tài sản của nhân dân ở hạ lưu hồ chứa;
b) Không xây dựng kế hoạch điều tiết nước hằng năm của hồ chứa;
c) Vận hành xả nước với lưu lượng không đúng quy định của quy trình trong điều kiện xuất hiện lũ.

9. Phạt tiền từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Không tuân thủ theo lệnh điều hành vận hành hồ chứa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp lũ, lụt, hạn hán, thiếu nước và các trường hợp khẩn cấp khác;
b) Không tuân thủ trình tự, phương thức đóng, mở cửa van các công trình xả nước theo quy định;
c) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng kế hoạch, phương án điều hòa, phân phối nguồn nước trên lưu vực sông của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Vi phạm quy định tại điểm g khoản 7, điểm c khoản 8 Điều này gây lũ nhân tạo đột ngột, bất thường ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở hạ du hồ chứa.

10. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng lũ, lụt, hạn hán, thiếu nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm g khoản 7, điểm c khoản 8 và khoản 9 Điều này mà gây ra lũ nhân tạo đột ngột, bất thường ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở hạ du hồ chứa.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về chế độ quan trắc, dự báo và cung cấp thông tin, số liệu theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về chế độ quan trắc, dự báo và cung cấp thông tin, số liệu theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Trả lời:

Theo Điều 12, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chế độ quan trắc, dự báo và cung cấp thông tin, số liệu theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền đối với một trong các hành vi vi phạm quy định về việc cung cấp thông tin, số liệu, cụ thể như sau:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đúng phương thức cung cấp thông tin, số liệu theo quy định;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, số liệu không đúng thời gian theo quy định;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, số liệu không đúng, không đủ các cơ quan, đơn vị phải cung cấp thông tin, số liệu theo quy định;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, số liệu không đúng, không đủ nội dung theo quy định;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin, số liệu theo quy định.

2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thực hiện không đúng chế độ quan trắc, dự báo trong điều kiện thời tiết bình thường trong mùa lũ theo quy định:

a) Thực hiện không đúng việc quan trắc, tính toán mực nước hồ, lưu lượng nước đến hồ, lưu lượng xả qua đập tràn, lưu lượng qua nhà máy, lưu lượng nước lấy vào kênh theo thời gian quy định;

b) Thực hiện bản tin dự báo không đúng các nội dung quy định.

3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thực hiện không đúng chế độ quan trắc, dự báo trong mùa cạn theo quy định:

a) Thực hiện không đúng việc quan trắc lưu lượng nước đến hồ, lưu lượng, nước qua đập tràn, qua nhà máy, lấy vào kênh, mực nước thượng và hạ lưu theo thời gian quy định;

b) Thực hiện bản tin dự báo không đúng các nội dung quy định.

4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi không thực hiện chế độ quan trắc, dự báo trong điều kiện thời tiết bình thường trong mùa lũ theo quy định:

a) Không thực hiện việc quan trắc, tính toán mực nước hồ, lưu lượng nước đến hồ, lưu lượng xả qua đập tràn, lưu lượng nước qua nhà máy, lưu lượng nước lấy vào kênh theo quy định;

b) Không thực hiện bản tin dự báo lũ về hồ theo quy định.

5. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi không thực hiện chế độ quan trắc, dự báo trong mùa cạn theo quy định:

a) Không thực hiện quan trắc lưu lượng nước đến hồ, lưu lượng nước qua đập tràn, qua nhà máy, lấy vào kênh, mực nước thượng và hạ lưu theo quy định;

b) Không thực hiện dự báo lưu lượng nước đến hồ theo quy định;

c) Không lập và báo cáo đến các cơ quan có thẩm quyền kế hoạch xả nước cấp cho hạ du theo quy định;

d) Không đề xuất và báo cáo đến các cơ quan có thẩm quyền phương án điều tiết nước cho hạ du khi xảy ra sự cố, hạn hán, thiếu nước mà các hồ không thể đảm bảo việc vận hành theo quy định.

6. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng đối với hành vi làm sai lệch thông tin, số liệu quan trắc, dự báo.

7. Phạt tăng gấp 3 lần mức phạt tiền đối với mỗi hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều này khi dự báo có khả năng gây mưa lũ.
 
Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Trả lời:
Theo Điều 13, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường với hồ chứa có dung tích toàn bộ dưới 200 triệu m3, cụ thể như sau:
a) Từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ, nhưng dưới 30% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
b) Từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 30% đến dưới 60% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
c) Từ 90.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 60% trở lên của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
d) Từ 110.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ bằng hoặc cao hơn mực nước dâng bình thường.

2. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 200 triệu m3 đến dưới 300 triệu m3, cụ thể như sau:
a) Từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ, nhưng dưới 30% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
b) Từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 30% đến dưới 60% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
c) Từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 60% trở lên của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
d) Từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ bằng hoặc cao hơn mực nước dâng bình thường.

3. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 300 triệu m3 đến dưới 500 triệu m3, cụ thể như sau:
a) Từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ, nhưng dưới 30% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
b) Từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 30% đến dưới 60% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
c) Từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 60% trở lên của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
d) Từ 160.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ bằng hoặc cao hơn mực nước dâng bình thường.

4. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm mực nước trước lũ trong điều kiện thời tiết bình thường với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 500 triệu m3 trở lên, cụ thể như sau:
a) Từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ, nhưng dưới 30% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
b) Từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 30% đến dưới 60% của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
c) Từ 160.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ cao hơn mực nước trước lũ từ 60% trở lên của hiệu số giữa mực nước dâng bình thường và mực nước trước lũ;
d) Từ 180.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi vận hành hồ không đúng quy định dẫn đến mực nước hồ bằng hoặc cao hơn mực nước dâng bình thường.

5. Phạt tiền từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này gây ra lũ, lụt ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở hạ du hồ chứa.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp vận hành hồ để đưa mực nước hồ về mực nước trước lũ;
c) Buộc khắc phục các thiệt hại đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du theo quy định của quy trình vận hành Liên hồ chứa?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du theo quy định của quy trình vận hành Liên hồ chứa?
Trả lời:

Theo Điều 14, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du theo quy định của quy trình vận hành Liên hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền đối với hành vi vận hành xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du đối với hồ chứa có dung tích toàn bộ dưới 200 triệu m3, cụ thể như sau:

a) Từ 140.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ, nhưng dưới 20% lưu lượng đến hồ;
b) Từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 20% đến dưới 40% lưu lượng đến hồ;
c) Từ 160.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 40% đến dưới 60% lưu lượng đến hồ;
d) Phạt tiền từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 60% đến dưới 80% lưu lượng đến hồ;
đ) Phạt tiền từ 180.000.000 đồng đến 190.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 80% lưu lượng đến hồ trở lên.

2. Phạt tiền đối với hành vi vận hành xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du đối với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 200 triệu m3 đến dưới 300 triệu m3, như sau:

a) Từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ, nhưng dưới 20% lưu lượng đến hồ;
b) Từ 160.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 20% đến dưới 40% lưu lượng đến hồ;
c) Từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 40% đến dưới 60% lưu lượng đến hồ;
d) Từ 180.000.000 đồng đến 190.000.000 đồng đối với đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 60% đến dưới 80% lưu lượng đến hồ;
đ) Từ 190.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 80% lưu lượng đến hồ trở lên.

3. Phạt tiền đối với hành vi vận hành xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du đối với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 300 triệu m3 đến dưới 500 triệu m3, cụ thể như sau:

a) Từ 160.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ, nhưng dưới 20% lưu lượng đến hồ;
b) Từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 20% đến dưới 40% lưu lượng đến hồ;
c) Từ 180.000.000 đồng đến 190.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 40% đến dưới 60% lưu lượng đến hồ;
d) Từ 190.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 60% đến dưới 80% lưu lượng đến hồ;
đ) Từ 200.000.000 đồng đến 210.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 80% lưu lượng đến hồ trở lên.

4. Phạt tiền đối với hành vi vận hành xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ trong quá trình vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du đối với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 500 triệu m3 trở lên, cụ thể như sau:

a) Từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ, nhưng dưới 20% lưu lượng đến hồ;
b) Từ 180.000.000 đồng đến 190.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 20% đến dưới 40% lưu lượng đến hồ;
c) Từ 190.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 40% đến dưới 60% lưu lượng đến hồ;
d) Từ 200.000.000 đồng đến 210.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 60% đến dưới 80% lưu lượng đến hồ;
đ) Từ 210.000.000 đồng đến 220.000.000 đồng đối với trường hợp xả lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ từ 80% lưu lượng đến hồ trở lên.

5. Phạt tiền từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại Điều này gây ra lũ, lụt ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở hạ du hồ chứa;
b) Khi mực nước hồ đạt đến mực nước dâng bình thường theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa mà vận hành xả nước với lưu lượng nước lớn hơn lưu lượng đến hồ.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện các biện pháp vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du;
b) Buộc khắc phục các thiệt hại đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều này.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ và đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa ?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ và đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa ?
Trả lời:

Theo Điều 15, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ và đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ không đúng quy định khi dự báo có bão khẩn cấp, áp thấp nhiệt đới hoặc các hình thế thời tiết khác có khả năng gây mưa, lũ;
b) Vận hành đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ không đúng quy định sau khi kết thúc quá trình giảm lũ cho hạ du.

2. Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi không vận hành xả lưu lượng nước bằng lưu lượng nước đến hồ để duy trì mực nước hồ hiện tại khi kết thúc quá trình vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ theo quy định mà các điều kiện vận hành giảm lũ cho hạ du chưa xuất hiện.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thực hiện các biện pháp vận hành hồ để hạ mực nước hồ để đón lũ và đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ theo quy định;
b) Buộc khắc phục các thiệt hại đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều này gây ra lũ, lụt ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở hạ du hồ chứa.

Chi tiết Nghị định số 33/2017/NĐ-CP xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm lưu lượng nước sau công trình trong mùa cạn hàng năm theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Câu hỏi:
Xin hãy cho biết, mức phạt tiền trong xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm lưu lượng nước sau công trình trong mùa cạn hàng năm theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa?
Trả lời:

Theo Điều 16, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm lưu lượng nước sau công trình trong mùa cạn hàng năm theo quy định của quy trình vận hành liên hồ chứa như sau:

1. Phạt tiền đối với hành vi xả nước với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng nhỏ hơn so với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng quy định với hồ chứa có dung tích toàn bộ dưới 200 triệu m3, cụ thể như sau:

a) Từ 110.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định dưới 20%;
b) Từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 20% đến dưới 50%;
c) Từ 130.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 50% trở lên;
d) Từ 140.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi không vận hành xả với lưu lượng xả hoặc tổng lưu lượng yêu cầu.

2. Phạt tiền đối với hành vi xả nước với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng nhỏ hơn so với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng quy định với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 200 triệu m3 đến dưới 300 triệu m3, cụ thể như sau:

a) Từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định dưới 20%;
b) Từ 130.000.000 đồng đến 140.000.000 đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 20% đến dưới 50%;
c) Từ 140.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 50% trở lên;
d) Từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi không vận hành xả với lưu lượng xả hoặc tổng lưu lượng yêu cầu.

3. Phạt tiền đối với hành vi xả nước với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng nhỏ hơn so với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng quy định với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 300 triệu m3 đến dưới 500 triệu m3, cụ thể như sau:

a) Từ 130.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định dưới 20%;
b) Từ 140.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 20% đến dưới 50%;
c) Từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi vận hành xả với lưu lượng xả hoặc tổng lưu lượng xả nhỏ hơn từ 50% trở lên;
d) Từ 160.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với hành vi không vận hành xả với lưu lượng xả hoặc tổng lưu lượng yêu cầu.

4. Phạt tiền đối với hành vi xả nước với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng nhỏ hơn so với lưu lượng hoặc tổng lưu lượng quy định với hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 500 triệu m3 trở lên vi phạm quy định, cụ thể như sau:

a) Từ 140.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định dưới 20%;
b) Từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 20% đến dưới 50%;
c) Từ 160.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng đối với trường hợp xả nước nhỏ hơn quy định từ 50% trở lên;
d) Từ 170.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi không vận hành xả với lưu lượng xả hoặc tổng lưu lượng yêu cầu.

5. Phạt tiền từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với hành vi không bảo đảm lưu lượng xả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng thiếu nước ở hạ du.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
b) Buộc thực hiện các biện pháp vận hành bảo đảm lưu lượng nước sau công trình trong mùa cạn hàng năm;
c) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng hạn hán, thiếu nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều này gây ảnh hưởng đến tình trạng thiếu nước ở hạ du.

Chi tiết Nghị định số