Trang nhất » Hỏi đáp

Lên phía trên
Cơ chế đặc thù hỗ trợ đối ứng cho các địa phương khi thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, tại khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước đối với nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh trên địa bàn… Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản của lĩnh vực tài nguyên nước đòi hỏi có nguồn kinh phí lớn, cử tri đề nghị Chính phủ có cơ chế đặc thù như trợ cấp hoặc hỗ trợ đối ứng cho các địa phương khi thực hiện nhiệm vụ này.
Trả lời:

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật Tài nguyên nước, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước có 07 hoạt động. Kinh phí cho điều tra cơ bản tài nguyên nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm (Khoản 1 Điều 10 của Luật Tài nguyên nước), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước của địa phương (Khoản 3 Điều 10 và Điểm g Khoản 1 Điều 71 của Luật tài nguyên nước).

Hiện tại, Chính phủ chưa xây dựng cơ chế đặc thù cho các địa phương khi thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên nước. Do vậy, tùy thuộc vào nguồn lực của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ nghiên cứu, rà soát để lựa chọn hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước phù hợp với sự phát triển của địa phương và hiệu quả với nguồn kinh phí được cấp hàng năm.
Lên phía trên
Đề nghị xem xét điều chỉnh khái niệm về nước sinh hoạt và nước sạch tại khoản 11, khoản 12 Điều 2 Luật Tài nguyên nước?
Câu hỏi:
Hiện nay, việc đánh giá, phân loại nước ăn uống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất do có sự khác nhau về khái niệm nước hợp vệ sinh. Đề nghị xem xét điều chỉnh khái niệm về nước sinh hoạt và nước sạch tại khoản 11, khoản 12 Điều 2 Luật Tài nguyên nước cho phù hợp với tình hình thực tiễn?
Trả lời:

Trả lời:

Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã quy định: “Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người” (Khoản 11 Điều 2).

“Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam” (Khoản 12 Điều 2).

Như vậy, nước sinh hoạt có thể hiểu là nước sạch đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam hoặc nước đã được xử lý, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước dùng cho sinh hoạt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Luật Tài nguyên nước không dùng khái niệm “Nước hợp vệ sinh”. Do vậy, căn cứ vào quy định tại Khoản 11 và Khoản 12 Điều 2 của Luật Tài nguyên nước, quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam, thành phố sẽ đánh giá, phân loại nước dùng cho sinh hoạt trên địa bàn phù hợp với quy định hiện hành.
Lên phía trên
Đề nghị làm rõ về việc UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương cho phép doanh nghiệp san lấn lấp bờ sông Đồng Nai, đã ảnh hưởng đến các tỉnh trong vùng?
Câu hỏi:
Vừa qua trên các phương tiện có nhiều bài báo viết về việc UBND tỉnh Đồng Nai có chủ trương cho phép doanh nghiệp san lấn lấp bờ sông Đồng Nai, đã ảnh hưởng đến các tỉnh trong vùng. Cử tri cho rằng, việc san lấp một phần bờ sông Đồng Nai không phải là vấn đề riêng của tỉnh Đồng Nai mà thuộc phạm vi cả nước. Cử tri đề nghị làm rõ sự việc trên ở tỉnh Đồng Nai đúng hay sai có thông báo cho cử tri cả nước biết?
Trả lời:
Trả lời:

(1) Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng (tại Văn bản số 2089/VPCP-KTN ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Văn phòng Chính phủ) giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai và các cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2015. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ:

- Thành lập Tổ công tác liên ngành với thành viên là đại diện của các Bộ nêu trên, lấy ý kiến của các Bộ về việc tuân thủ quy định của các pháp luật có liên quan đến Dự án thuộc phạm vi quản lý của Bộ, về những vấn đề kỹ thuật Dự án cần tuân thủ, các vấn đề tồn tại và đề xuất xử lý;

- Ngày 21/4/2015, Tổ công tác liên ngành đã khảo sát thực tế và làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai về Dự án;

- Ngày 29/5/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả kiểm tra liên ngành về Dự án tại công văn số 2159/BTNMT-TNN;

(2) Tại Công văn số 2159/BTNMT-TNN, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những nội dung liên quan đến Dự án như sau:

(a) Việc thực hiện Dự án được xuất phát từ chủ trương chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hoá, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, đã có sự thống nhất của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

(b) Dự án đã tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, xây dựng, đầu tư, giao thông đường thủy và đã có đánh giá tác động môi trường. Trước đó, năm 2008 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ, năm 2009 UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt Báo cáo.

Tuy nhiên, còn một số vấn đề Dự án chưa tuân thủ chặt chẽ các quy định hiện hành trong các lĩnh vực kể trên: Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa đã xác định khu đất Dự án lấn sông Đồng Nai khi chưa thực hiện quy trình điều chỉnh cục bộ các nội dung liên quan đến đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên Hòa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 227/2003/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2003 (ý kiến của Bộ Xây dựng).

(c) Việc tuân thủ pháp luật khí tượng thuỷ văn

Trạm thủy văn Biên Hòa đặt giữa khu vực san lấp lấn sông tạo mặt bằng của Dự án. Dự án thực hiện sẽ phải di dời trạm thuỷ văn và như vậy sẽ ảnh hưởng cả chuỗi số liệu đã có trong quá khứ.

Theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai ban hành ngày 15 tháng 8 năm 2014, quy định các trạm thủy văn phải dự báo lũ cùng các cấp báo động tương ứng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ chịu trách nhiệm dự báo, trong đó có trạm Biên Hòa. Do đó khi trạm di dời sẽ phải tính toán lại các cấp báo động lũ.

(d) Việc tuân thủ pháp luật tài nguyên nước

Dự án chưa làm rõ sự tuân thủ các quy định tại Điều 9, Điều 63 Luật Tài nguyên nước năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013) về bảo đảm thoát lũ; sự lưu thông dòng chảy; không gây sạt lở bờ sông. Theo quy định tại Điều 72 của Luật Tài nguyên nước và Điều 42 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai thuộc hoạt động gia cố bờ sông, cải tạo cảnh quan, phát triển vùng đất ven sông trên lưu vực sông liên tỉnh phải lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong quá trình triển khai, Dự án chưa lấy ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án và Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy đều chưa làm rõ hoặc chưa nghiên cứu, đánh giá đầy đủ để có thể định lượng các tác động của Dự án tới thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông làm cơ sở thực hiện Dự án, cụ thể như sau:

- Đặt bài toán và giải bài toán:

+ Đặt bài toán chưa đầy đủ, chưa xem xét quá trình diễn biến lòng dẫn trong nhiều năm, nhiều thời kỳ.

+ Các phương án công trình đưa ra trong báo cáo chưa xem xét đến việc đánh giá ổn định lòng dẫn trên toàn tuyến, đặc biệt vị trí đoạn bờ đối diện công trình, chưa đánh giá được sự thu hẹp lòng dẫn ở phần chân do vấn đề san lấp gây ra.

+ Chưa xét đến trường hợp tính toán khi có lũ lớn trên sông Đồng Nai kết hợp với triều cường, đặc biệt khi có xả lũ của các hồ chứa phía thượng nguồn.
- Về số liệu đầu vào:

+ Số liệu địa hình, thủy văn (lưu tốc mực nước tại 3 mặt cắt: Biên Hòa hạ lưu cầu Ghềnh, hạ lưu cầu Rạch Cát được thực hiện trong tháng 9 năm 2008 (4 ngày) chưa đáp ứng được yêu cầu bài toán đánh giá tác động dòng chảy do Dự án gây ra trên sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh.

+ Thời gian mô phỏng diễn biến chỉ tính toán trong các ngày từ 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 là chưa đủ, đặc biệt chưa đánh giá mô phỏng với lưu lượng ổn định lòng dẫn (lưu lượng tạo lòng).

+ Mô hình thủy lực mới chỉ được hiệu chỉnh trên cơ sở chuỗi số liệu thực đo từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 9 năm 2008 chưa phản ánh được các trường hợp đặc trưng như lũ lớn, mực nước cao nên chưa đủ thuyết phục. Kết quả hiệu chỉnh mới chủ yếu  dựa vào mực nước và lưu lượng. Chưa có hiệu chỉnh về biến động lòng dẫn.

Để thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân  tỉnh Đồng Nai là chỉnh trang, tạo điểm nhấn cho thành phố Biên Hòa, xã hội hóa, tiết kiệm ngân sách, hạn chế di dời, bảo tồn di tích lịch sử ven sông, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã chủ động tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động đến dòng chảy sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh trong trường hợp xây dựng kè xa bờ (50m, 75m và 100m), phê duyệt kết quả nghiên cứu (từ năm 2009). Trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã triển khai việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng và triển khai các bước để hình thành Dự án.

Mặc dù trong Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Tư vấn lập báo cáo và Tư vấn thẩm tra đều kết luận: việc xây dựng các công trình lấn sông ở khu vực từ Cầu Hóa An đến Cầu Ghềnh theo các phương án lấn sông 50m, 75m và 100m không làm thay đổi đáng kể về chế độ thuỷ lực của dòng chảy đoạn sông, không làm ảnh hưởng xấu đến sự thay đổi dòng chảy và tác động đến các đoạn bờ lân cận, nhưng trong phần kiến nghị, Tư vấn lập Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy cũng cho rằng kết quả tính toán mới dừng ở mức sơ bộ, cần tiếp tục nghiên cứu thêm.

Bên cạnh đó, khi thẩm tra Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy, Viện Thủy lợi và Môi trường thuộc Trường Đại học Thủy lợi đã nhận xét: "Các kết quả tính toán của  đơn vị tư vấn mới dừng ở mức nghiên cứu sơ bộ, chưa đưa ra cơ sở, luận cứ lựa chọn phương án tính toán, phần thuyết minh tính toán bằng mô hình cần làm rõ cụ thể theo các bước thực hiện, từ việc xác định lưới, xây dựng miền địa hình tính toán, xác định các điều kiện ban đầu và điều kiện biên, hiệu chỉnh xác định bộ thông số mô hình và kiểm định mô hình. Trên cơ sở đó mới có luận cứ khoa học để đánh giá tính khả thi của các phương án đưa ra. Vì vậy, đơn vị thẩm định đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao độ chính xác và các phương án tính toán kiểm tra thêm khi đi vào xây dựng công trình".

 Như vậy, việc dựa vào kết luận của Báo cáo đánh giá tác động dòng chảy để triển khai thực hiện Dự án là chưa đủ cơ sở khoa học tin cậy.

 Trong quá trình chuẩn bị đầu tư và phê duyệt Dự án, Chủ đầu tư đã tổ chức lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai tổ chức thẩm định, trình UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt (tháng 5 năm 2014), trên cơ sở đó UBND tỉnh Đồng Nai đã chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án (tháng 7 năm 2014). Mặc dù Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án cũng đã đánh giá, dự báo bổ sung về những tác động chính đến chế độ dòng chảy sông Đồng Nai của việc xây dựng kè, nhưng còn sơ sài (nội dung đánh giá tác động đến chế độ dòng chảy chỉ thể hiện từ trang 73 đến trang 76, gồm cả hình vẽ) những vấn đề về đặt bài toán, giải bài toán và số liệu đầu vào như đã nêu trên vẫn chưa được bổ sung, hoàn chỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu.

Việc lấn sông để phát triển đô thị sẽ có những tác động đến dòng chảy, mức độ tác động tùy thuộc vào kết quả nghiên cứu tiếp theo. Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của Dự án, làm cơ sở quyết định việc tiếp tục thực hiện hay dừng Dự án, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục dừng thực hiện Dự án.

- Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, đặc biệt là vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở lòng, bờ bãi sông.

(3) Ngày 17 tháng 6 năm 2015, tại Công văn số 4520/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ về việc Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh Đồng Nai xử lý các nội dung liên quan đến Dự án. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án, đặc biệt là các tác động của Dự án tới dòng chảy sông Đồng Nai như vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, xói, bồi, sạt lở lòng, bờ, bãi sông và chất lượng nước sông Đồng Nai.

Ngày 30 tháng 7 năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Hội đồng thẩm định lại Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án và yêu cầu UBND tỉnh Đồng Nai cung cấp tài liệu, báo cáo có liên quan cho các thành viên Hội đồng. Hội đồng có nhiệm vụ rà soát các vấn đề còn tồn tại, kiến nghị những nội dung cần làm rõ trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường để làm căn cứ cho Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.
Lên phía trên
Về việc giải quyết việc xả nước thải, chất thải từ Thành phố Hà Nội về sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục đề nghị quan tâm, xem xét, giải quyết việc xả nước thải, chất thải từ Thành phố Hà Nội về sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang làm nước có màu đen, cá chết bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân (Cử tri các tỉnh, thành phố: Hà Nam, Hà Nội 2015)
Trả lời:
Theo Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 trả lời về vấn đề này như sau:

Ô nhiễm nước sông Nhuệ - sông Đáy chủ yếu do nước thải sinh hoạt từ các đô thị và nước thải công nghiệp của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các làng nghề trên lưu vực các sông gây ra. Để bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020” (sau đây viết tắt là Đề án). Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án tại Quyết định số 1435/QĐ-TTg ngày 18/8/2014; Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực gồm: Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình triển khai nhiều giải pháp thực hiện Đề án nêu trên.

Việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải của Thành phố Hà Nội vào sông Nhuệ, sông Đáy và sông Châu Giang đã và đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quan tâm thực hiện, các hoạt động đã và đang được triển khai thời gian qua như sau:

1. Tăng cường quản lý và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội:

Trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy tại địa bàn Thành phố Hà Nội hiện có 03/03 khu công nghiệp (xả nước thải vào sông Nhuệ - sông Đáy) đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 07/17 cụm công nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải; 10/17 cụm công nghiệp còn lại đang xây dựng và chuẩn bị triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải; trong đó Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng trạm xử lý nước thải cụm làng nghề tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, công suất thiết kế 13.000 m3/ngày đêm.

2. Thúc đẩy triển khai các dự án xử lý nước thải sinh hoạt:

- Các dự án đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt đã xây dựng và đi vào vận hành gồm: trạm xử lý nước thải Kim Liên, Trúc Bạch công suất 6.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Yên Sở công suất 200.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Hồ Tây công suất 15.000 m3/ngày đêm.

- Các dự án đang đầu tư xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng gồm: trạm xử lý nước thải Bảy Mẫu công suất 13.300 m3/ngày đêm; hệ thống xử lý nước thải Yên Xá công suất 270.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô công suất 84.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải làng nghề và sinh hoạt tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức công suất 4.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức công suất dự kiến 8.000 m3/ngày đêm.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang phối hợp với Thành phố Hà Nội để triển khai các dự án thí điểm xử lý nước thải sinh hoạt quy mô vừa và nhỏ, bao gồm:

- Dự án xây dựng trạm xử lý nước thải sông Nhuệ công suất 400 m3/ngày đêm tại 02 thôn Phú Hà, Phú Thứ, Quận Nam Từ Liêm, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2014.

- Dự án xây dựng trạm xử lý nước thải tại một số điểm xả thải vào sông Nhuệ, công suất dự kiến 1.500 – 2.000 m3/ngày đêm.

3. Thực hiện việc tiếp nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ qua công Liên Mạc (Từ Liêm) và vào sông Đáy qua trạm bơm Bá Giang (Đan Phượng) trong các tháng mùa khô để góp phần cải thiện chất lượng nước sông Nhuệ - sông Đáy.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý triệt để các nguồn thải gây ô nhiễm đang xả thải vào sông Nhuệ, sông Đáy trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng và trên toàn lưu vực nói chung. Đồng thời, Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và các Bộ, ngành liên quan thúc đẩy triển khai các dự án thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân.
 
Lên phía trên
Vv Cử tri phản ánh, việc ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, nhà máy xả khói bụi, khí thải và nước bẩn chưa qua xử lý
Câu hỏi:
Cử tri phản ánh, việc ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, nhà máy xả khói bụi, khí thải và nước bẩn chưa qua xử lý; vấn đề nước thải và rác thải ở nông thôn hiện nay ngày càng phức tạp; gây bức xúc cho môi trường và xã hội; xong vấn đề quy hoạch hệ thống xử lý, thu gom, tiêu thoát chưa có hoặc chưa đáp ứng thực tiễn hiện nay, đề nghị Nhà nước cần có biện pháp đồng bộ để xử lý ô nhiễm môi trường ở nông thôn và các khu công nghiệp, vì đây là vấn đề toàn xã hội trong quá trình phát triển (Cử tri các tỉnh: Hà Nam, Hưng Yên)
Trả lời:
Theo Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 Bộ Tài nguyên và Môi tường trả lời về vấn đề này như sau:
Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết an sinh xã hội thì bảo vệ môi trường luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của Đảng và Chính phủ. Bộ Tài nguyên và Môi trường với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã và đang hoàn thiện, đồng bộ hóa các biện pháp bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường các khu công nghiệp, đô thị, nông thôn cũng như khu dân cư tập trung nói riêng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng hoàn thiện góp phần tích cực cùng với các giải pháp kinh tế kỹ thuật để cải thiện chất lượng môi trường tại các khu vực này. Đặc biệt, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 với những quy định cụ thể sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý tốt hơn chất lượng môi trường; trong đó có khu công nghiệp (Điều 66), khu vực nông thôn (Điều 69,70 và 71). Để hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó quy định cụ thể các yêu cầu về quản lý nước thải, khí thải và chất thải rắn đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường trong đó Chương IV về bảo vệ môi trường làng nghề; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Bên cạnh các công cụ pháp lý, các công cụ kinh tế như thuế, phí bảo vệ môi trường cũng đã được đẩy mạnh áp dụng như phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn,… Đặc biệt, các biện pháp, chế tài mạnh khác cũng đã và đang từng bước được thực thi có hiệu quả như thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường), điều kiện quan trắc môi trường đối với đơn vị tư vấn (Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn quan trắc môi trường), quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao); bảo vệ môi trường làng nghề (Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trường làng nghề)…

Các công cụ pháp lý, công cụ kinh tế kết hợp với các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức, kiến thức cho các bên liên quan trong quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu vực nông thôn, làng nghề,…. đã tạo những chuyển biến nhất định trong công tác bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng môi trường tại các khu vực nói trên.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song kết quả này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tại nhiều địa phương vẫn xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường do phát triển sản xuất các khu công nghiệp, nông thôn ảnh hưởng tới đời sống cộng đồng, sức khỏe nhân dân. Qua các đợt thanh tra, kiểm tra, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều vụ việc các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp xả chất thải không hoặc chưa xử lý đạt quy chuẩn gây ô nhiễm môi trường đã bị phát hiện và xử phạt như khu công nghiệp Hiệp Phước – Thành phố Hồ Chí Minh (2012), khu công nghiệp Trảng Bàng – Tây Ninh (2013), khu công nghiệp Suối Dầu – Khánh Hòa (2014),…; tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, do hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp núp bóng làng nghề, đặc biệt là các “làng nghề” tái chế phế liệu. Một số nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại nói trên như sau:

- Phân công trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan liên quan chưa rõ ràng, còn chồng chéo chức năng thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền phổ biến pháp luật giữa các bên, ví dụ: trong quản lý môi trường nông thôn giữa các Bộ, ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị được giao trách nhiệm quản lý môi trường nói chung và bảo vệ môi trường làng nghề nói riêng (Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/03/2013 của Chính phủ); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn (Khoản 21 Điều 2 Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ). Bên cạnh đó, giữa các Bộ, ngành và giữa các cơ quan ở địa phương cũng chưa ban hành, thực thi có hiệu quả các quy chế phối hợp.

- Việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân chưa nghiêm, trong khi một số văn bản pháp luật ban hành chưa kịp thời, thậm chí chưa phù hợp với thực tiễn và hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu vực nông thôn.

- Ý thức, trách nhiệm và khả năng bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất còn hạn chế, đặc biệt là các cơ sở tại khu vực nông thôn, làng nghề. Trách nhiệm bảo vệ môi trường nông thôn đến nay chủ yếu là lồng ghép vào chức năng quản lý ngành nên việc thực thi đối với quy định về bảo vệ môi trường không được ưu tiên so với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác. Các cơ quan quản lý địa phương chưa thực sự quan tâm, chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường khu vực nông thôn, đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn.

- Công tác giám sát đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải các khu công nghiệp của Ủy ban nhân dân tỉnh, đặc biệt là của Ban Quản lý các khu công nghiệp các tỉnh, thành phố chưa quyết liệt và hiệu quả.

- Đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường chưa được coi trọng đúng mức ngay từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi thi công, vận hành dự án.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ các giải pháp pháp lý đến các giải pháp về kinh tế, công nghệ; đặc biệt sẽ nghiên cứu xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích đi đôi với các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường khu công nghiệp, nông thôn, làng nghề. Một số nhiệm vụ trọng tâm cụ thể như sau:
- Xây dựng các quy định hướng dẫn công khai thông tin, vận hành hệ thống quan trắc môi trường tự động trong khu công nghiệp; xây dựng các chế tài, công cụ kinh tế quản lý hiệu quả môi trường khu vực nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

- Tăng cường thanh, kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hướng dẫn, thẩm định, lựa chọn các công nghệ sản xuất phù hợp với từng loại hình sản xuất trong khu công nghiệp, khu vực nông thôn, làng nghề.

- Tăng cường đôn đốc, chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu công nghiệp; giám sát chặt chẽ việc thu hút đầu tư các ngành nghề phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt để giảm thiểu rủi ro trong quá trình thiết kế, thi công và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu vực nông thôn cho các đối tượng là Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp, các chủ đầu tư và chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp, khu vực nông thôn.

* Đối với khu vực nông thôn, bên cạnh các giải pháp về cơ chế, chính sách nêu trên, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Trung ương và địa phương cần tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp sau:

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn xây dựng quy chế quản lý, hương ước, quy ước nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách và huy động sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, thực hiện chính sách khuyến khích và các biện pháp chế tài trong quản lý môi trường khu vực nông thôn; cơ chế hỗ trợ phát triển của tổ chức dịch vụ môi trường nông thôn.

- Kiện toàn đội ngũ cán bộ thực thi công tác bảo vệ môi trường các cấp, đặc biệt là cấp xã, cấp huyện về cả số lượng và trình độ chuyên môn; nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động của các tổ chức dịch vụ môi trường; huy động sự tham gia, theo dõi, giám sát của các tổ chức đoàn thể tại địa phương.

- Tiếp tục huy động nguồn tài chính, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác (tổ chức quốc tế, xã hội hóa,…) cho hoạt động bảo vệ môi trường khu vực nông thôn; tập trung vào các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường,…

-  Tăng cường xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn, nâng cao trách nhiệm tham gia, đóng góp của các cá nhân, hộ gia đình và các cơ sở sản xuất trên địa bàn khu vực.

- Lựa chọn các công nghệ, giải pháp phù hợp với điều kiện khu vực nông thôn hoặc các mô hình đã vận hành có hiệu quả trước khi phổ biến, nhân rộng; ưu tiên các biện pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn phát sinh, tăng cường tận thu, tái chế, tái sử dụng chất thải trong nông nghiệp, sản xuất làng nghề.
Lên phía trên
Vv giải pháp tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế rủi ro sự tác động do biến đổi khí hậu gây ra
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ cần có giải pháp tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế rủi ro sự tác động do biến đổi khí hậu gây ra (Cử tri tỉnh Long An)
Trả lời:

Công văn số 3638/BTNMT-PC ngày 01/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời về vấn đề này như sau:

Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có những giải pháp tích cực nhằm ứng phó với biển đổi khí hậu và giảm rủi ro do các tác động của biến đổi khí hậu. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt một số văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác ứng phó với biển đổi khí hậu như Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2008-2012 và 2012-2015, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ cacbon rat hị trường thế giới.

Thực hiện nghĩa vụ của một nước thành viên tham gia Công ước khí hậu, Việt Nam đã gửi Ban Thư ký Công ước các Thông báo quốc gia lần thứ nhất và thứ hai và Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất. Các báo cáo này cung cấp thông tin về bối cảnh quốc gia, kiểm kê quốc gia khí nhà kính và đề xuất các biện pháp giảm nhẹ phát thải trong các lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội như năng lượng, giao thông, nông nghiệp, lâm nghiệp và chất thải, tình hình thực hiện các cơ chế song phương và đa phương và việc áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường tại Việt Nam nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, đã đưa ra các thông tin về tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực phát triển kinh tế như tài nguyên nước, vùng ven biển, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông và sức khỏe cộng đồng và đề xuất các biện pháp thích ứng…

 Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện Báo cáo “Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định”. Báo cáo gồm thông tin về các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu sẽ được thực hiện trong thời gian tới, sử dụng nguồn lực trong nước và có thể đạt được mục tiêu cao hơn nếu nhận được nguồn hỗ trợ từ quốc tế.

Thông qua các báo cáo nêu trên, Chính phủ Việt Nam đã tái khẳng định cam kết tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu dựa trên các nguồn lực trong nước và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu của Công ước khí hậu nhằm làm giảm rủi ro do các tác động của biến đổi khí hậu gây ra và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Nguyễn Phước Lộc tại kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Sau khi nghe Bộ trưởng nói nhằm tăng cường quản lý giám sát, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường các dòng sông nên đã tham mưu Chính phủ lập Ủy ban lưu vực sông. Nhưng theo chúng tôi được biết, Ủy ban này hoạt động theo cơ chế Chủ tịch UBND tỉnh tham gia vào Uỷ ban và luân phiên hàng năm Chủ tịch UBND tỉnh này làm chủ tịch, chịu trách nhiệm điều phối và điều hành toàn bộ hoạt động. Như vậy, nó có bị cắt khúc, không toàn diện, không đồng bộ và không thống nhất, vì vậy vấn đề quản lý hiệu quả các hoạt động của lưu vực của Ủy ban các dòng sông này có hiệu quả không, xin Bộ trưởng làm rõ?
Trả lời:
Toàn văn câu Trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Hoàng Văn Cường tại Hội trường Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Liên quan đến ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long vừa qua, đây không phải là vấn đề ngẫu nhiên mà thực ra là một vấn đề đã cảnh báo từ 20 năm trước đây, Uỷ ban sôgn Mê Công đã cảnh báo khi Trung Quốc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn, khi Lào xây dựng các đập ở giữa nguồn, Thái Lan đã xây dựng công trình để điều chuyển hướng dòng chảy, còn Việt nam chưa thấy có hành động gì. Vậy, tình trạng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long vừa qua chúng ta có nói là thiên tai, xin hỏi Bộ trưởng đây có đúng là thiên tai hay không, hay là chúng ta đã chậm phản ứng đối với những vấn đề đã được cảnh báo từ trước và trong tương lai Bộ trưởng có kế hoạch gì cho đồng bằng sông Cửu Long này, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà tại hội trường kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Vừa qua nhân dân và cử tri cả nước rất bức xúc về tình trạng ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng cảu các dòng sông diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương, nổi lên là hoạt động xả thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng của Tập đoàn khoáng sản Á Cường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Cẩm Đàn. Vụ nhà máy tinh bột sắn Hòa Bình xả thải gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Bưởi, tỉnh Thanh Hóa làm chết dần những dòng sông, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, sức khỏe, đời sống và gây tâm lý bất an cho nhân dân, ảnh hưởng tới an ninh trật tự ở nhiều địa phương, xin Bộ trưởng cho biết trách nhiệm của Bộ trưởng để xảy ra tình trạng trên và giải pháp khắc phục?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của DDBQH Nguyễn Thanh Phương tại hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Vấn đề hạn mặn xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng đầu năm 2016 đã làm thiệt hại hơn 400 ngành ha lúa, 80 ngàn ha thủy sản và một số cây trồng, vật nuôi khác. Có thế xem đây là một tín hiệu đáng lo ngại và có thể lặp lại ở các năm tới. Một trong những vấn đề nổi cộm lên từ sự việc này đó là thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt đến mức chúng ta phải kêu gọi các nước bạn xả nước. Xin hỏi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những tính toán cho vấn đề bảo vệ, quản lý, tích lũy và sử dụng nguồn nước ngọt cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa? Nếu có thì Bộ trưởng có thể khái quát các giải pháp này?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trươgnr Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Nguyễn Văn Hiển tại Hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, nhiều tỉnh đã phải ban bố tình trạng thiên tai. Nguyên nhân là do thiên tai, biến đổi khí hậu là chính, nhưng do nhân tai nhiều, nhất là việc xây dựng các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn các sông, các quốc gia thượng nguồn sông Mê Công đang xây dựng nhiều đạp thủy điện có công suất lớn, trực tiếp làm ảnh hưởng, thay đổi đến dòng chảy, chu kỳ, đe dọa đến an ninh lương thực và đời sống của hàng triệu người dân. Vậy đề nghị Bộ trưởng cho biết có giải pháp nào cụ thể cho từng vùng, nhất là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long để thích ứng bền vững và chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu và ảnh hưởng tiêu cực của các nhà máy thủy điện?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
Lên phía trên
Trả lời chất vấn của ĐBQH Phùng Văn Hùng tại hội trường kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV
Câu hỏi:
Dự án cải tạo và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai do UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt với diện tích lấp sông dự kiến 77.000 m2 nhằm xây dựng khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn, khu dân cư với hàng trăm ngànt ấn đất đá đổ xuống sông, 80% diện tích lập sông đã hoàn thành, chỗ xa nhất tới 100m, dự án bị đình chỉ, bị sức ép của dư luận do nguy cơ ảnh hưởng tới dòng chảy, khả năng thoát lũ của sông và môi trường khu vực lưu vực sôgn Đồng Nai. Tháng 6/2015, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môit rường rà soát, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án, đến nay vẫn rơi vào im lặng. Theo ý kiến của các chuyên gia, đây là dự án có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi tường nhưng không thuộc thẩm quyền phê duyệt của chính quyền địa phương. Đề nghị Bộ cho biết việc phê duyệt thực hiện dự án đó đúng hay sai? Sao lại có việc chậm trễ trong việc triển khai thực hiện chỉ đạo của nguyên Thủ tướng Chính phủ và trả lời công khai trước công luận? Để xảy ra vụ việc trên thì trách nhiệm của Bộ và chính quyền Đồng Nai như thế nào? Giải pháp xử lý tiếp theo ra sao?
Trả lời:
Toàn văn câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin mời xem Tại đây
 



1
1
1
1
LIÊN KẾT WEBSITE :
1
1
1
1
1

Thống kê

thoi trang Đang truy cập : 31

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 30


1 Hôm nay : 1411

2 Tháng hiện tại : 212230

thoi trang cong so Tổng lượt truy cập : 18576338

áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe