Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Hoạt động của Cục - Tin liên quan

Giải bài toán nước ngọt cho người dân Đồng bằng sông Cửu Long

Thứ hai - 27/04/2020 14:33
Phó Cục trưởng phụ trách Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh

Phó Cục trưởng phụ trách Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh

Năm 2020, chứng kiến đợt hạn mặn lịch sử tại ĐBSCL. Mặn xâm nhập sớm hơn bình thường một tháng rưỡi và chưa năm nào hạn vào sâu như vậy. Hơn 100.000 hộ hiện gặp khó khăn về nước sinh hoạt. Vì sao năm nay tình hình thiếu nước lại khốc liệt hơn mọi năm? Nguyên nhân chính là gì? Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh đã có buổi trao đổi với Phóng viên VTV về chủ đề "Quản lý tài nguyên nước" để lý giải những vấn đề này.
 

Phóng viên: Ông có thể lý giải tại sao năm nay chúng ta có thể gặp tình trạng hạn mặn mà khốc liệt nhất như vậy? Nguyên nhân nào là nguyên nhân chính, thưa ông?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Nguyên nhân chính là do lượng mưa trên toàn lưu vực suy giảm rất lớn so với trung bình nhiều năm. Đối với vùng trung lưu phía Thái Lan, Lào thì lượng mưa giảm so với trung bình nhiều năm từ 60-70%, vùng hạ lưu bao gồm cả châu thổ Campuchia và châu thổ ĐBSCL lượng mưa giảm thấp hơn so với trung bình nhiều năm (TBNN) đến tận 90%. Nguyên nhân thứ hai, lượng nước mùa lũ năm 2019 là thấp, do đó lượng nước tích được ở trong các hồ chứa phía thượng nguồn Trung Quốc theo tính toán là cũng thấp hơn vào khoảng 15-20% so với nhiều năm. Chính vì vậy, lượng nước xả về trong mùa khô năm 2020 cũng bị giảm. Cùng với đó là sự gia tăng khai thác nước ở các nước phía thượng lưu  như Thái Lan, Campuchia nên đã gây ra tình trạng hạn hán như trong thời gian vừa qua. Đây cũng là những vấn đề chúng ta chưa thể chủ động được trong thời gian vừa qua.


Phó Cục trưởng phụ trách Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh

Phóng viên:  Năm 2015- 2016, chúng ta cũng có đợt hạn mặn lịch sử, sau đó Chính phủ đã đầu tư khá nhiều công trình để điều tiết mặn, ngọt. Có lý do nào phía chủ quan không? Phải chăng chúng ta đã làm nhưng chưa đủ mạnh với những công trình điều tiết để ngăn mặn, ngọt?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Hơn 2 năm vừa qua, chúng ta cũng thực hiện được một số công trình liên vùng, công trình lớn như là hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé, các dự án liên quan đến cấp nước an toàn vùng ĐBSCL cũng đang được triển khai. Vấn đề đánh giá hiệu quả thì đến giờ này chưa làm được, có thể chờ một vài năm nữa khi các công trình này đi vào hoạt động thực tế.

Phóng viên:  Về mặt chủ quan, chúng ta đều có thể thấy, mặc dù chúng ta có rất nhiều sông suối với hơn 100 lưu vực sông và có gần 3500 sông, suối. Phải chăng chúng ta sống trên vùng thừa nước mà lại thiếu nước để dùng thì quả là thực là vô lý, thưa ông?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Tôi nghĩ rằng, điều này không vô lý và thực ra tôi cũng xin chia sẻ, vấn đề của chúng ta không phải thừa nước mà hiện tại so với mức độ trung bình Thế giới thì Việt Nam không phải là quốc gia dồi dào về tài nguyên nước, với lượng nước bình quân nội sinh chỉ đạt khoảng 3600m3/người/năm, ít hơn 4000 m3/người/năm thuộc quốc gia thiếu nước (nằm ở thang trung bình kém so với tiêu chuẩn thế giới). Nếu tính cả nước ngoài lãnh thổ chảy vào nước ta đạt được 9650 m3 lớn hơn 7400 m3/người/năm (trung bình thế giới). Nước nguồn ngoài lãnh thổ chiếm 63% tổng nguồn tài nguyên nước mặt Việt Nam, khó chủ động bảo vệ, khai thác và sử dụng.

Do vậy, lượng nước chỉ thừa trong mấy tháng mùa lũ (do có khoảng 80% lượng nước tập trung vào mùa lũ, mùa kiệt chỉ được từ 10-20%), tức là về tổng lượng nước thì nhiều nhưng phân bố rất không đều theo không gian và thời gian.

Phóng viên: Chúng ta đã phân tích lý do dẫn đến tình trạng thiếu nước, cũng có nhưng chuyên gia cho rằng, những lý do về mặt chủ quan của chúng ta khi chúng ta khai thác, sử dụng nước còn thiếu khoa học, ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Trước đây, người ta thường có suy nghĩ “Nước là của trời cho” đồng nghĩa với việc tài nguyên nước có rất nhiều thì cần gì phải lo giữ gìn và quan tâm. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua trên các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh tình trạng thiếu nước, khô hạn đã xảy ra ở nhiều nơi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nhiều vùng phải mua nước với giá đắt đỏ, thậm chí có những nơi có nước nhưng cũng không dùng được do ô nhiễm. Điều đó cho thấy tài nguyên nước hết sức quan trọng nhưng chưa được chú trọng nhiều. 

Bên cạnh đó, hiện nay chúng ta chưa đưa được nhiều những công nghệ tưới, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả vào ứng dụng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất. Ngành sử dụng nước lớn nhất (chiếm đến 80% tổng lượng nước khai thác, sử dụng) đó là ngành nông nghiệp. Trong đó, lượng nước dùng cho lúa là sử dụng nhiều nhất trong ngành nông nghiệp, tuy nhiên, chúng ta cũng chưa có nhiều giải pháp để sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Phóng viên: Sau nhiều tháng qua thì phong trào đưa nước về miền Tây rất sôi nổi, chúng ta có thể thấy là từ lực lượng quân đội, đoàn thanh niên cho đến các nghệ sĩ nổi tiếng đều chung tay góp sức để mang nước ngọt về tặng miền Tây. Cùng với các hoạt động nghĩa tình, một số giải pháp kỹ thuật đã được các cơ quan chức năng tích cực triển khai, cụ thể như xây trạm cấp nước, đào giếng khoan, chở nước từ nơi khác về, làm hồ để dự trữ nước, ... Theo ông, đâu là giải pháp quan trọng và mang tính căn cơ trong thời gian tới?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Như chúng ta biết, những giải pháp nêu trên đều là những giải pháp tình thế. Về lâu dài thì chúng ta cần phải định hình lại các vùng sinh thái nước lợ, nước ngọt, vùng sinh thái sống chung với lũ, tổ chức lại hệ thống đô thị và các điểm dân cư nông thôn phù hợp với đặc điểm của các vùng sinh thái tự nhiên, cũng như các giải pháp tối quan trọng đó là trữ nước của vùng ĐBSCL thông qua những việc điều tiết, giảm mùa vụ, cho ngập lũ vào trong vùng đê bao.

Ngoài ra, chúng ta cần phải thay đổi tư duy, quan niệm “Sống chung với lũ”, bây giờ chúng ta cần phải có tư duy “Chủ động sống chung với lũ, mặn, hạn và ngập”.

Phóng viên: Có một điều chúng ta không thể không thể không nói tới là năm nay chúng ta gặp đợt hạn, mặn lịch sử nhưng thiệt hại về nuôi trồng thì ít, chỉ có khoảng 2% diện tích lúa bị thiệt hại, điều đó cho thấy chúng ta đã có bài học kinh nghiệm về cảnh báo hoặc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

 Đây là vấn đề mấu chốt trong công tác quản lý tài nguyên nước cũng như khí tượng thủy văn (KTTV) của ngành tài nguyên môi trường chúng tôi trong đợt hạn, mặn này. Ngay từ đầu mùa lũ năm 2019, trước lượng nước về ĐBSCL trong mùa lũ là rất thấp thì Tổng cục Khí tượng thủy văn (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã có những bản tin cảnh báo dài hạn 3 tháng, 6 tháng, thậm chí là đến 9 tháng, đặc biệt là công tác khuyến nghị đẩy sớm thời vụ.

Phóng viên:  Đó là bài học kinh nghiệm rất quý cho chúng ta, có những chuyên gia thì đưa ra một ý tưởng, đề nghị là bằng một cách nào đấy chúng ta phải làm hệ thống chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây. Đây có thể là giải pháp bền vững và lâu dài, ông có quan điểm về vấn đề này như thế nào?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

 Đối với ý tưởng chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây, chúng tôi cũng sẽ xem xét và nghiên cứu, tuy nhiên, cũng có thực tế chúng ta đều biết rằng, miền Đông bản chất là lượng nước của lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn, còn miền Tây thì tổng lượng nước trung bình năm của lưu vực sông Đồng Nai chỉ có khoảng 36 tỷ/năm, trong khi đó tổng lượng nước của lưu vực sông Mê Công chảy vào Việt Nam cỡ khoảng 450 tỷ m3/năm, cho nên việc chuyển nước ở vùng nước ít hơn rất nhiều sang vùng nước nhiều hơn rất nhiều thì tính khả thi cũng cần phải cân nhắc, xem xét, đặc biết là ngưỡng, trong khi đó hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công trình chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây đó là công trình thủy lợi Phước Hòa (chuyển nước từ sông Bé sang sông Sài Gòn, từ sông sài Gòn thông qua hồ Dầu Tiếng để chuyển nước về Long An cỡ khoảng 4m3/s cho sản xuất và sinh hoạt).

Phóng viên: Vâng, chúng ta đang rất nỗ lực, vậy thì có thể đặt ra mục tiêu ở thời điểm nào đó trong tương lai mà chúng ta có thể chủ động bước vào mùa khô mà không cần phải có những cứu trợ khẩn cấp cho miền Tây hay không?

Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh:

Hiện nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang triển khai lập quy hoạch tổng thể vùng ĐBSCL, trong đó, sẽ có những kịch bản thiếu nước tương ứng dựa trên những cảnh báo về điều kiện thời tiết, khí tượng thủy văn (kịch bản trong quy hoạch), còn thời điểm nào thì sẽ phụ thuộc vào lượng nước hiện có trong nội đồng, lượng nước phía thượng nguồn, lượng mưa cũng như dự báo, trên cơ sở này chúng ta sẽ có những kịch bản tương ứng.

* Trân trọng cảm ơn ông!

Từ năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 120/NQ-CP về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu nêu rõ các quan điểm, định hướng phát triển tài nguyên nước ứng phó với thiên tai cho ĐBSCL, trong đó nhấn mạnh không chống lại BĐKH mà là chinh phục, thích ứng theo hướng thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên. Chúng ta đã có nhiều giải pháp tốt trong thực tế, tuy nhiên vẫn cần nhiều giải pháp hữu hiệu hơn để quản lý, khai thác  tài nguyên nước là nhân tố cốt lõi trong phát triển bền vững ở ĐBSCL.

Tác giả bài viết: DWRM

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 


Ngày nước thế giới 2020
1
1
1
1
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
2019 << 8/2020 >> 2021
LIÊN KẾT WEBSITE :
1
1
1
1
1

Thống kê

thoi trang Đang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 14

Khách viếng thăm : 24


thoi trang cong so Hôm nay : 8462

áo khoác nữ Hàn Quốc Tháng hiện tại : 133772

áo sơ mi nữ công sở Tổng lượt truy cập : 28518921

áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi