Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Hoạt động của Cục - Tin liên quan

Hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 của ngành Tài nguyên và Môi trường

Thứ sáu - 31/12/2021 20:45
Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Hoàng Minh

Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Hoàng Minh

Sáng 31/12, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 của ngành Tài nguyên và Môi trường. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành dự và chỉ đạo Hội nghị.

Dự Hội nghị, về phía các cơ quan Trung ương có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Thị Thanh Trà; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thanh Long; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị; Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh; đại diện Lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương và kết nối trực tuyến đến 63 tỉnh, thành phố.

Về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường có Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà; các Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: Nguyễn Thị Phương Hoa; Võ Tuấn Nhân; Trần Quý Kiên; Lê Công Thành; Lê Minh Ngân cùng lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ tại Hà Nội.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nhấn mạnh, năm 2021 sắp qua đi, để lại những dấu rất mốc quan trọng, sẽ làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu cũng như Việt Nam.

Biến đổi khí hậu, suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, đại dịch Covid-19 đã trở thành “khủng hoảng kép”, tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống, sản xuất kinh doanh trên phạm vi toàn cầu. Nguyên nhân của “khủng hoảng kép” nêu trên xuất phát từ mô hình phát triển thiếu bền vững kéo dài hàng thế kỷ của nhân loại, làm suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên, làm cho khí hậu biến đổi nhanh với cường độ cao.

Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội. Ảnh: Hoàng Minh
 
Chính vì vậy, chưa bao giờ môi trường, khí hậu được đặt ở vị trí ưu tiên cao nhất trong chương trình nghị sự của các cấp từ Liên Hợp Quốc cho đến nguyên thủ quốc gia các nước như trong năm 2021.

Đảng và Nhà nước với tầm nhìn chiến lược, nhãn quan nhạy bén đã xác định tài nguyên và môi trường là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, giải quyết, chuyển hóa các thách thức an ninh phi truyền thống về môi trường, khí hậu đã trở thành những chủ đề được Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội tham gia thảo luận tích cực cùng với nguyên thủ quốc gia tại các diễn đàn, Hội nghị toàn cầu. Đặc biệt, người đứng đầu Chính phủ đã đưa ra những cam kết hành động mạnh mẽ về giảm phát thải khí nhà kính, giảm phát thải khí mê-tan, tham gia nhiều sáng kiến rất quan trọng về môi trường và khí hậu tại COP26. Vì vậy, hai tiếng “Việt Nam” đã được các nhà Lãnh đạo thế giới nhắc đi, nhắc lại nhiều lần tại các Hội nghị, diễn đàn quốc tế; cộng đồng quốc tế đánh giá cao sự tham gia chủ động, trách nhiệm của Việt Nam vào việc giải quyết những thách thức toàn cầu.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường vinh dự là cơ quan đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ làm việc và chỉ đạo trong những ngày đầu trên cương vị công tác mới.

Sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, chỉ đạo điều hành sâu sát của Chính phủ, sự tâm huyết của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, đặc biệt là nỗ lực, quyết tâm vào cuộc của các địa phương đã tiếp thêm nguồn động lực to lớn cho ngành Tài nguyên và Môi trường vượt qua những khó khăn, thách thức trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước ta. Toàn ngành đã triển khai toàn diện nhiệm vụ năm 2021, qua đó, tạo thế và lực để hướng đến năm 2022 với tâm thế mới cùng với sự lạc quan, tin tưởng vững chắc vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: Hoàng Minh
 
Thay mặt Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ và toàn ngành TN&MT, Bộ trưởng Trần Hồng Hà trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ; các Bộ, Ban, ngành, Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND các tỉnh, thành phố. Đồng thời, cảm ơn những nỗ lực phấn đấu của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở mỗi vị trí công tác đã nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức do dịch bệnh gây ra, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của ngành và sự phát triển chung của đất nước.

Tập trung giải quyết ngay các vướng mắc, điểm nghẽn để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2021 mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành sâu sát của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, đặc biệt là nỗ lực, quyết tâm vào cuộc của các địa phương, của toàn ngành với phương châm “Đoàn kết, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển”, ngành tài nguyên và môi trường đã đạt được những chỉ tiêu cơ bản đặt ra trong năm 2021, đóng góp trực tiếp, quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo đó, để giải quyết, tháo gỡ các vướng mắc đặt ra từ thực tiễn về đất đai quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư, giao khu vực biển, lấn biển, đấu giá khoáng sản, quản lý tài nguyên nước, cơ chế khuyến khích, các chính sách hỗ trợ, các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án hạ tầng quan trọng, phòng chống rủi ro do thiên tai, Bộ đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 12 Nghị định, 02 Quyết định, 02 Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ3 ; ban hành theo thẩm quyền 21 Thông tư. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành trên 420 văn bản phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của địa phương, nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường,...

Toàn ngành cũng đã rà soát 440 văn bản liên quan đến đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng và kinh doanh bất động sản xác định 40 văn bản có nội dung chưa thống nhất, đồng bộ, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp, trên cơ sở đó đề xuất Chính phủ sửa đổi các quy định thuộc thẩm quyền và giải quyết các chồng chéo mâu thuẫn trong dự thảo Luật đất đai (sửa đổi).

Tập trung triển khai xây dựng các chiến lược, quy hoạch, trình Quốc hội quyết định quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, kế hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021-2025; trình Thủ tướng Chính phủ Chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, quy hoạch sử dụng tài nguyên nước quốc gia và các lưu vực sông thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phân bổ hợp lý nguồn lực tài nguyên đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, của đất nước, phát triển các ngành, lĩnh vực và các địa phương.

Phát triển hạ tầng số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối liên thông giữa các ngành, các cấp

Năm 2021, Bộ TN&MT đã ban hành Chương trình chuyển đổi số của ngành đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2022 và giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch triển khai cung cấp 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4 trong năm 2021 thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ và các nhóm dịch vụ công thiết yếu theo đánh giá của Liên Hợp Quốc được Thủ tướng Chính phủ giao; Kế hoạch thực hiện lưu trữ điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2021-2025 và Danh mục mã định danh điện tử các đơn vị thuộc Bộ phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương và hệ thống thông tin nội bộ.

Triển khai, vận hành các hệ thống thông tin, dịch vụ, ứng dụng Chính phủ điện tử phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của ngành tài nguyên và môi trường trên môi trường điện tử, trực tuyến; kết nối, liên thông với các hệ thống thông tin của Chính phủ, với các CSDL quốc gia, của các bộ, ngành qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Triển khai các ứng dụng thông minh trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường.

Đến nay, các địa phương đều đã triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, trong đó có 216 đơn vị cấp huyện đưa vào sử dụng, cập nhật phục vụ công tác quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công; hoàn thành việc lập 8,63 triệu hồ sơ địa chính điện tử, số hóa thông tin địa chính của 42.984 thửa đất.

Các nguồn tài nguyên được quản lý chặt chẽ, phân bổ và sử dụng hiệu quả cho phát triển đất nước

Trong năm 2021, các nguồn tài nguyên được quản lý chặt chẽ, phân bổ và sử dụng hiệu quả cho phát triển đất nước. Theo đó, quy hoạch phân bổ quỹ đất đã đảm bảo cho thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giải quyết hiệu quả tình trạng lãng phí tài nguyên đất đai.

Các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; thực hiện thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích hơn 20 nghìn ha trong năm 2021 đáp ứng yêu cầu về đất đai cho tập trung triển khai các dự án hạ tầng, phát triển hệ thống đô thị, nhà ở, thu hút, đón nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh phục hồi, phát triển kinh tế sau đại dịch Covid-19.

Khai hoang phục hóa, đưa vào sử dụng gần 11 nghìn ha đất chưa sử dụng. Thực hiện cấp 0,5 triệu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu, thực hiện gần 6 triệu thủ tục đăng ký biến động, cấp Giấy chứng nhận.

Tình trạng lãng phí đất được quan tâm chỉ đạo, rà soát, xử lý, đến nay, cả nước đã thực hiện thanh tra, kiểm tra, rà soát, thu hồi chủ trương đầu tư, thu hồi đất với diện tích 16 nghìn ha; yêu cầu đưa vào sử dụng gần 53 nghìn ha; chấm dứt chủ trương đầu tư 7,7 nghìn ha. Cơ bản hoàn thành rà soát, cắm mốc ranh giới đất nông, lâm trường ở 45/45 địa phương.

Để thực hiện giải pháp tổng thể đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia trong bối cảnh 63% lượng nước xuất phát từ bên ngoài lãnh thổ, toàn ngành đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: Triển khai Đề án tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025, Quy hoạch điều tra cơ bản tài nguyên nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tập trung xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Bằng Giang-Kỳ Cùng, Sê San, SrePok, Cửu Long và các lưu vực sông liên tỉnh; điều hòa, phân phối các hoạt động khai thác, sử dụng đảm bảo cân bằng giữa nhu cầu về tài nguyên nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từng vùng, từng địa phương, bảo đảm quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng cung ứng của tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Tổng kết đánh giá việc thi hành Luật tài nguyên nước để tiếp tục hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, quản lý, bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, bảo đảm an ninh tài nguyên nước quốc gia. Hướng tới quản trị tài nguyên nước hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội. 

Thực hiện giám sát việc vận hành các hồ chứa theo quy trình vận hành liên hồ, đến nay 100% đã được kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu hàng ngày. Công bố giá trị dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu các hồ chứa, đập dâng của các công trình thủy lợi, thủy điện, theo đó, ban hành Danh mục giá trị dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu 555 hồ chứa, đập dâng của 511 công trình thủy lợi, thủy điện. Đến nay, có 41/63 tỉnh phê duyệt Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ. Nguồn thu từ tài nguyên nước ước đạt khoảng 5.900 tỷ đồng, trong đó, thu từ tiền cấp quyền đạt hơn 1.600 tỷ đồng.

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng thể về đối sách trong chia sẻ nguồn nước sông Mê Công; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác về quản lý nguồn nước xuyên biên giới thông qua hợp tác Mê Công và Mê Công - Lan Thương.

Các điểm cầu Hội nghị
 
Năm 2021, Bộ TN&MT cũng quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản; tăng cường điều tra, nghiên cứu địa chất phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cảnh báo thiên tai. Đến nay, đã hoàn thành lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 phần đất liền diện tích 242.445 km2 (đạt 73,19% diện tích đất liền) và tỷ lệ 1:100.000 đến 1:500.000 trên diện tích hơn 244.000 km2 vùng biển độ sâu 0 - 100m. Kết quả đã phát hiện, điều tra sơ bộ hàng trăm điểm khoáng sản các loại, khoanh định nhiều khu vực có tiềm năng, triển vọng để chuyển sang giai đoạn đánh giá xác định tài nguyên. Bước đầu đã phát hiện các cấu trúc thuận lợi, những tiền đề, dấu hiệu tìm kiếm khoáng sản như quặng đất hiếm trong vỏ phong hóa ở vùng Tây Bắc, Trung Bộ; khoáng sản kim loại ẩn sâu vùng Tây Bắc; xác định các dấu hiệu của hoạt động kiến tạo, đứt gãy, trượt lở nhằm cảnh báo thiên tai.

Cùng với đó, Bộ cũng tăng cường công tác điều tra tài nguyên, môi trường biển; quy hoạch không gian biển, phát huy tiềm năng, lợi thế cho phát triển các ngành kinh tế biển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn. Theo đó, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; trình Chính phủ Nghị định quy định về thế chấp, cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân được giao để nuôi trồng thủy sản; hỗ trợ, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi khu vực biển vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng; Nghị định về hoạt động lấn biển.

94,71% chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý

Bên cạnh đó, trong năm 2021, Bộ đã hoàn thành chỉ tiêu Quốc hội giao về tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý tại khu vực đô thị đạt khoảng 94,71% (cao hơn so với chỉ tiêu Quốc hội giao 89%).

Các mô hình xử lý rác thải theo hình thức đốt rác phát điện thay cho chôn lấp được triển khai ở nhiều địa phương; 80% cơ sở có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao được kiểm soát vận hành đóng góp cho tăng trưởng.
 
Báo cáo của Bộ TN&MT cũng cho biết, chỉ số hài lòng của người dân doanh nghiệp đối với thủ tục đất đai và môi trường tăng 4,14% so với năm trước, tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh sự phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính giảm 7%, phải trả chi phí không chính thức khi thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai giảm 4%; tỷ lệ người dân quan ngại về môi trường giảm từ 8,85% năm 2019 xuống còn 4,03%; số lượng đơn thư, khiếu kiện giảm 28% trong năm qua.

Triển khai có hiệu quả các mục tiêu năm 2022

Năm 2022 là năm có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025. Dự báo tình hình quốc tế và trong nước có những thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn. Nguy cơ chậm phục hồi kinh tế, suy giảm tăng trưởng vẫn còn tiềm ẩn nếu không kiểm soát được dịch bệnh một cách cơ bản để mở cửa trở lại nền kinh tế. Bên cạnh đó, tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai, suy giảm hệ sinh thái tự nhiên đang trở thành tình trạng khẩn cấp trên toàn cầu.Trong bối cảnh đó, Bộ TN&MT phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đặt ra:

(i)Trình Quốc hội dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tổng kết đánh giá lập đề nghị sửa đổi Luật Khoáng sản; ban hành các văn bản dưới Luật giải quyết các vướng mắc đặt ra từ thực tiễn. 

(ii) Hoàn thành việc lập và phê duyệt các quy hoạch quốc gia, các quy hoạch ngành; kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh giai đoạn 2021-2025, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021-2030. 

(iii) Đơn giản hóa 10-15% thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ thủ tục trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 với các thủ tục đủ điều kiện trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 90%-100% dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ và được tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 63/63 tỉnh thành phố kết nối liên thông thủ tục thanh toán nghĩa vụ tài chính với cơ quan thuế, tổ chức tín dụng. 

(iv) Đưa vào vận hành hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường trọng tâm là cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, tập trung, kết nối liên thông giữa các ngành, cổng thông tin địa lý quốc gia, dữ liệu quan trắc, điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường. 

(v) Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác quản lý tài nguyên và môitrường; thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm minh các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhũng nhiễu trong quản lý tài nguyên và môi trường; giải quyết căn bản tình trạng lãng phí đất đai, tài nguyên; chỉ số hài lòng của người dân doanh nghiệp đối với thủ tục đất đai và môi trường tăng 5-6%, tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh sự phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính giảm 7-10%. (vi) Nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai, nguồn thu từ đất đai chiếm 12% - 15% thu ngân sách nội địa; chỉ số “đăng ký đất đai” và “chất lượng quản lý hành chính đất đai” tăng 1 bậc. 

(vii) Cải thiện các chỉ số thành phần môi trường; 91% khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 96% chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn; 30% rác thải sinh hoạt được xử lý theo mô hình đốt rác, phát điện, tái chế thay cho chôn lấp. 

Toàn cảnh Hội nghị 
 
(viii) 80% hồ chứa thuỷ điện lớn đang vận hành được kiểm soát, giám sát trực tuyến; 100% các giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước được cập nhật, quản lý, theo dõi thống nhất từ trung ương đến địa phương vào hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của Bộ TN&MT (khoảng gần 30.000 giấy phép); khoảng 600 hồ chứa thủy điện, thủy lợi được xác định và công bố dòng chảy tối thiểu sau đập. 

(ix) 50% số trạm quan trắc khí tượng thuỷ văn được tự động hóa để từng bước hình thành mạng lưới quan trắc KTTV hiện đại và tự động hoàn toàn, kết nối, chia sẻ số liệu với các nước trong khu vực, trên thế giới; 100% thiên tai bão, lũ, được giám sát, dự báo, cảnh báo kịp thời, đủ độ tin cậy; hình thành mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn kết nối trong lưu vực sông Mê Công; tăng cường năng lực giám sát môi trường, khí tượng thuỷ văn.
 
(x) 31% diện tích vùng biển được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000; 75% diện tích đất liền được lập bản đồ địa chất khoáng sản ở tỷ lệ 1:50.000; trên 90% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành điều tra tài nguyên đất. 

(xi) Hoàn thành xây dựng các tiêu chí phát triển bền vững về môi trường, biến đổi khí hậu, đại dương làm cơ sở đánh giá kết quả thực hiện.


 

Tác giả bài viết: DWRM

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi