Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Hoạt động của Cục - Tin liên quan

Quản lý tài nguyên nước: Cần sớm hoàn thành Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước

Thứ ba - 15/01/2019 16:46
Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy

Trong những năm gần đây, công tác quản lý tài nguyên nước đã đạt được một số chuyển biến đáng kể trong công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước. Đặc biệt, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) đã và đang tích cực triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 trình Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt.

Phóng viên báo chí đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy nhằm hiểu rõ hơn vấn đề này.
 
Phóng viên:  Năm 2018, Cục quản lý tài nguyên nước đã có những kết quả tích cực trong công tác quản lý tài nguyên nước. Xin ông cho biết cụ thể những kết quả đã đạt được?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:
 
Trong năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước đã quán triệt, tập trung theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ, Cục đã chủ động trả lời kiến nghị của các Bộ, ngành địa phương, giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; chỉ đạo giải quyết và phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng đơn vị, cán bộ trong công tác chỉ đạo điều hành, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm như công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng và xả nước thải vào nguồn nước… 
 
Theo Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2018 và Chương trình công tác năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước được giao 12 nnhiệm vụ công tác, trong đó xây dựng 01 Nghị định, 02 Thông tư và 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, kết quả thực hiện nhiệm vụ của lĩnh vực tài nguyên nước như sau: Ngày 26/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 31/2018/TT-BTNMT quy định nội dung, biểu mẫu, báo cáo trong lĩnh vực tài nguyên nước và Thông tư 34/2018/TT-BTNMT quy định về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất. Cùng với đó, 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông Ba, Kôn - Hà Thanh, Trà Khúc đã được Cục trình Bộ trình Chính phủ đúng thời hạn và đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành tại các Quyết định số 878/QĐ-TTg ngày 25/7/2018; Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 30/7/2018 và Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 25/7/2018.
 
Thực hiện Kế hoạch thanh tra năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước đã tổ chức đoàn thanh tra tình hình thực hiện giấy phép tài nguyên nước tại tỉnh Lai Châu và thực hiện các Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba, Sông Vu Gia - Thu Bồn. Bên cạnh đó, Cục còn thực hiện kiểm tra đột xuất việc chấp hành quy định của pháp luật tài nguyên nước về giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt tại tỉnh Cao Bằng và Hà Giang; Kiểm tra đột xuất việc vận hành các công trình khai thác Nhà máy nước Cầu Đỏ, Trạm bơm An Trạch của Công ty Cổ phần cấp nước Đà Nẵng, vận hành đập dâng An Trạch và một số công trình liên quan trên lưu vực để có thông tin, xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đến đảm bảo nguồn cấp nước cho người dân ở thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, Cục đã thực hiện kiểm tra, theo dõi, giám sát công tác quản lý, vận hành các các hồ chứa, công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở 11 lưu vực sông lớn, có Quy trình vận hnàh liên hồ chứa trên cả nước có ứng dụng công nghệ thông tin.


Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy phát biểu tại Hội nghị  tổng kết công tác năm 2018 và triển khai nhiệm vụ năm 2019 của Cục Quản lý tài nguyên nước 
 
Trong công tác cấp phép tài nguyên nước, tính đến ngày 28 tháng 12 năm 2018, Cục Quản lý tài nguyên nước đã thẩm định, trình Bộ cấp 200 giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước, trong đó có 47 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 29 giấy phép khai thác nước dưới đất; 04 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; 07 giấy phép thăm dò nước dưới đất; 113 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển.
 
Trong công tác cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tính đến ngày 28/12/2018, Cục đã thẩm định, trình Bộ phê duyệt tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho các tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất: đã phê duyệt 330 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền phải thu hơn 7.144 tỷ, trong đó số tiền phải thu năm 2018 là 877 tỷ đồng. Các địa phương đã phê duyệt cho gần 750 đơn vị, số tiền phải thu hơn 106 tỷ đồng, năm 2018, thực hiện thu gần 20 tỷ đồng.
 
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước; công tác khoa học công nghệ; thực hiện các nhiệm vụ, dự án chuyên môn về tài nguyên nước;... cũng được Cục chú trọng và đạt nhiều kết quả tích cực.
 
Tại các địa phương, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố cũng đã tích cực tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành 73 văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành để tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn, chủ yếu phê duyệt danh mục nguồn nước nội tỉnh; Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn tỉnh; Phê duyệt vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và Danh mục các khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất; công tác quy hoạch tài nguyên nước; cấp phép, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và bảo vệ nước dưới đất; phê duyệt danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn tỉnh...
 
Các Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện có hiệu quả công tác cấp phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền. Thống kê sơ bộ, năm 2018 các địa phương đã cấp được 2.921 giấy phép tài nguyên nước các loại (trong đó: cấp mới 80%; gia hạn, điều chỉnh 20%), trong đó cấp phép xả nước thải vào nguồn nước 1.194 giấy phép (chiếm 40,8%), khai thác sử dụng nước mặt 180 giấy phép (chiếm 6,1%), thăm dò nước dưới đất 196 giấy phép (chiếm  6,7%), khai thác sử dụng nước dưới đất 756 giấy phép (chiếm 25,8%), hành nghề khoan nước dưới đất 26 giấy phép (chiếm 0,89%). 
Hầu hết các Sở Tài nguyên và Môi trường của các tỉnh trong cả nước (85% các tỉnh) đã tổ chức Hội nghị phổ biến, tuyên truyền pháp luật về tài nguyên nước; tổ chức tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước.... 
 
Các địa phương tăng cường thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước. Theo số liệu thống kê, có tổng số 273 đoàn thanh tra, kiểm tra đối với 1.829 cơ sở. Tổng số tiền phạt thu về cho ngân sách nhà nước gần 6.618 triệu đồng. Một số địa phương đã triển khai thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra như: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hưng Yên, Yên Bái, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng. 
 
Về kết quả thực hiện tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước: các địa phương đã phê duyệt cho gần 750 đơn vị, số tiền phải thu hơn 106 tỷ đồng, năm 2018, thực hiện thu gần 20 tỷ đồng. Theo số liệu thống kê, năm 2018 cả nước có 21 tỉnh, thành phố đã thực hiện xây dựng danh mục hành lang bảo vệ tài nguyên nước, trong đó 15 tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt danh mục hành lang bảo vệ tài nguyên nước; 03 tỉnh đã xây dựng và hoàn thiện đang trình UBND tỉnh phê duyệt (Bình Thuận, Yên Bái và Đăk Lăk); 02 tỉnh đang xây dựng Đề cương (Cần Thơ, Sóc Trăng).
 
Phóng viên: Thời gian qua Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đồng bộ cho công tác quản lý tài nguyên nước từ Trung ương đến địa phương. Tuy vậy, thực tế cho thấy công tác quản lý về tài nguyên nước vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập, vậy ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
 
Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:
 
Để bảo đảm quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, toàn diện, hiệu quả cao, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp TNN giai đoạn 2014 - 2020... Tuy vậy, công tác quản lý về TNN vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập như: Công tác lập quy hoạch tài nguyên nước còn chậm; việc điều hòa, phân bổ nguồn nước giữa các ngành, địa phương đòi hỏi phải có sự tính toán cụ thể và sự đồng thuận cao, trong khi chưa thành lập được các Ủy ban lưu vực sông. Thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc tài nguyên nước còn phân tán, chưa có cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước và chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước.
 
Đáng lưu ý, tại các địa phương, cán bộ quản lý tài nguyên nước thiếu về số lượng, không có chuyên môn sâu về chuyên ngành, hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm. Do kinh phí hạn chế nên công tác xây dựng mạng lưới các điểm, trạm quan trắc, giám sát tài nguyên nước; điều tra, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước khó thực hiện. Ý thức chấp hành pháp luật về tài nguyên nước của người dân còn chưa cao, vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân xả nước thải chưa qua xử lý vào môi trường; việc sử dụng tài nguyên nước còn lãng phí, chưa hiệu quả, tình trạng hoạt động hành nghề khoan nước dưới dất trái phép còn diễn ra phức tạp, khó kiểm soát...
 
Phóng viên: Để từng bước kiểm soát tình trạng suy thoái, cạn kiệt nguồn tài nguyên nước,  theo ông trong năm 2019, Ngành Tài nguyên và Môi trường nên định hướng triển khai xây dựng Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước thế nào cho hợp lý?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:
 
Theo tôi, bên cạnh việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ nước dưới đất; xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá... để đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên nước trong tình mới. Rà soát, điều chỉnh bổ sung 5 quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông: Đồng Nai, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Cả, Srêpốk; triển khai Quy hoạch điều tra cơ bản tài nguyên nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
 
Ngoài ra, ngành cần chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, trọng tâm là các quy định mới như: Ưu đãi đối với việc sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả, lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trên cơ sở áp dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến; giám sát việc vận hành của các hồ chứa theo quy trình liên hồ và việc xả dòng chảy tối thiểu. 
 
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất ở vùng khan hiếm nước, thiếu nước, hải đảo; nghiên cứu xây dựng để sớm đưa vào hệ thống giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, giám sát việc vận hành của hệ thống liên hồ chứa, vận hành duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ chứa thủy điện.... bằng công nghệ tự động, trực tuyến;… Tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý TNN để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới, trọng tâm là nguồn lực để triển khai thực hiện, bao gồm cả kinh phí, tổ chức bộ máy và năng lực thực thi.
 
Đặc biệt, mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050. Theo đó, Quy hoạch đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước mặt; điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất; công bố được kết quả tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, báo cáo tài nguyên nước quốc gia (theo giai đoạn 5 năm một lần) vào năm 2025, 2030 và lập báo cáo chuyên đề về tài nguyên nước, báo cáo sử dụng nước hằng năm của các bộ, ngành, địa phương theo quy định của Luật tài nguyên nước. Đồng thời, hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống giám sát việc phối hợp vận hành liên hồ chứa của khoảng 70 hồ chứa lớn, quan trọng trên 11 lưu vực sông và hệ thống giám sát hoạt động khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước; hoàn thành việc khoanh định, công bố vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên phạm vi cả nước; và hoàn thành việc xác định và công bố khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước đối với các sông lớn, quan trọng hoặc trọng điểm về ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, xác định được tầm nhìn đến năm 2050 là về cơ bản thông tin, số liệu, kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước đáp ứng được yêu cầu quản lý hiệu quả, khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trên cơ sở nền tảng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến theo chuẩn mực chung quốc tế./.

Tác giả bài viết: dwrm

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 


Ngày nước thế giới 2020
1
1
1
1
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
2019 << 8/2020 >> 2021
LIÊN KẾT WEBSITE :
1
1
1
1
1

Thống kê

thoi trang Đang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 10

Khách viếng thăm : 27


thoi trang cong so Hôm nay : 8732

áo khoác nữ Hàn Quốc Tháng hiện tại : 134042

áo sơ mi nữ công sở Tổng lượt truy cập : 28519191

áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi