Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Hoạt động của Cục - Tin liên quan

TỔNG THUẬT: Chìa khóa nào cho bài toán nước sạch?

Thứ tư - 29/06/2022 17:16
Tọa đàm với chủ đề "Chìa khóa nào cho bài toán nước sạch" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tọa đàm với chủ đề "Chìa khóa nào cho bài toán nước sạch" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Nước sạch là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất trong đời sống con người. Nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, góp phần duy trì và phát triển an sinh xã hội. Và đây cũng là nội dung được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt thời gian qua, nhằm bảo đảm nguồn nước và chất lượng nước sạch cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong cả nước.

Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1566/QĐ-Ttg về Chương trình quốc gia bảo đảm cấp nước sạch giai đoạn 2016 - 2025 với mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, tỉ lệ dân cư được cấp nước sạch, hợp vệ sinh đạt 95-100%. Cũng trong chương trình này, mục tiêu đến năm 2020, tỉ lệ dân cư được cung cấp nước sạch, hợp vệ sinh đạt 90- 95%, đến năm 2025 có 95-100% người dân thành thị và 93-95% người dân ở nông thôn có nước sạch để dùng. Tuy nhiên, mục tiêu này khó đạt được bởi theo Báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục Thống kê năm 2019, tỉ lệ hộ tiếp cận nước máy chỉ chiếm khoảng 52%, ngoài ra, có 22,8% hộ sử dụng nguồn nước giếng khoan. 
 
Sau 2 năm ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, con số này vẫn giữ nguyên. Vấn đề đặt ra là vì sao một đất nước có tài nguyên nước dồi dào, sông hồ đa dạng trên cả nước mà tỉ lệ người dân dùng nước máy thấp như vậy? Giá nước đã phù hợp với cơ chế thị trường hay chưa? Thực trạng hoạt động, đầu tư của các doanh nghiệp cung cấp nước sạch thế nào và các chính sách về nước sạch đã đầy đủ hay chưa?
 
Để trả lời cho những câu hỏi này, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức Tọa đàm với chủ đề "Chìa khóa nào cho bài toán nước sạch".
 
Khách mời Tọa đàm: 
 
- Ông Châu Trần Vĩnh – Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường
 
- Ông Nguyễn Thế Công – Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội
 
- Ông Nguyễn Ngọc Điệp – Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam
 
- Ông Nguyễn Quang Đồng – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông
 
Cuộc Tọa đàm được truyền hình trực tuyến tại địa chỉ "chinhphu.vn". Quý vị quan tâm có thể gửi câu hỏi tới doithoai@chinhphu.vn hoặc gọi điện thoại đến đường dây nóng  080.48113.
 
Ở một số địa phương, chính quyền có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và quản lý khai thác công trình nước sạch. Trên địa bàn thành phố Hà Nội, vấn đề này được thực hiện ra sao? Giá nước tại Thành phố và các cơ chế được quy định thế nào thưa ông?
 
Ông Nguyễn Thế Công, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội: Hiện tại Hà Nội đang duy trì giá nước ban hành từ năm 2013, điều chỉnh gần nhất là năm 2015. Từ năm 2019, Thành phố đã giao Sở Tài chính rà soát điều chỉnh giá nước phù hợp với điều kiện sản xuất tiêu thụ nước sạch hiện nay. Khi Hà Nội sáp nhập, có 2 hệ thống cấp nước: Đô thị và nông thôn. Giá nước ở hai khu vực này khác nhau.
 
Chủ trương của Hà Nội đến nay là không còn phân biệt giữa hai khu vực này, toàn bộ cấp nước sạch theo nguồn nước chung. Điều tiết được giá tuỳ thuộc vào vào quy mô, công suất, chất lượng nước sẽ có giá khác nhau.

Các vị khách mời trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
 
Hiện tại, UBND Thành phố đã giao cho Sở Tài chính tổ chức tổ công tác liên ngành rà soát tổng thể các dự án nước làm cơ sở xác định giá nước sinh hoạt chung của cả Thành phố. Ở đây sẽ có chênh giá của các chủ đầu tư khác nhau nhưng Thành phố yêu cầu xây dựng khung giá chung để người dân toàn Thành phố đều được tiếp cận nguồn nước sạch tiêu chuẩn. Lãnh đạo Thành phố có yêu cầu là phải xin ý kiến các bộ để xây dựng chính sách, xây dựng cơ chế điều hòa điều chỉnh giá nước giữa các đơn vị cấp nước, đặc biệt là các đơn vị cấp nguồn, đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp cấp nước, đồng thời xây dựng cơ chế điều tiết giá chung cho cả Thành phố. Hiện tại, chưa có một nhà đầu tư nào tham gia xây dựng dự án đầu tư cấp nước mặt.
 
Quan điểm của cá nhân tôi là sớm ban hành Luật để có cơ chế đầu tư, quản lý… Với Hà Nội, tại các địa phương, các nhà đầu tư đầu tư vào hệ thống nước mặt, theo hệ thống Luật nếu chỉ có 1 nhà đầu tư thì không có vấn đề gì, nhưng nếu có từ 2 nhà đầu tư thì bài toán lựa chọn nhà đầu tư như thế nào? Nếu theo Luật Đấu thầu cũng chưa có hướng dẫn cụ thể, vì vậy rất khó khăn với các địa phương như Hà Nội.
 
Về giá, Hà Nội cũng đang rà soát kỹ thuật theo các thông tư của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính. Với các nhà đầu tư mới có các định mức kỹ thuật với các tiêu chí cao, tiên tiến. Hà Nội cũng đã có những văn bản đề nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn để xây dựng giá cho các nhà đầu tư phù hợp. Đây cũng là một trong những điều vướng cho các chủ đầu tư.

Quan điểm của ông Đồng về vấn đề này thế nào?
 
Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông: Tôi nghĩ rằng nên mở rộng cái góc nhìn về mặt chính sách hơn nữa bởi thị trường nước phân thành 3 giai đoạn: Sản xuất nước, phân phối nước và bán lẻ nước. Trong 3 công đoạn như vậy phải xác định là Nhà nước dẫn dắt ở công đoạn nào, tư nhân được tham gia vào công đoạn nào, chứ không phải chúng ta mở cửa toàn bộ thị trường, tư nhân tham gia cả. Phải có những chỗ Nhà nước cần nắm bởi nước là hàng hóa công hoặc là bán công. Nó có những đặc tính riêng, vừa có đặc tính của hàng hóa nhưng là hàng hóa độc quyền bán ra số lượng lớn.
 
Phần sản xuất nước thì chúng ta nên mở cửa kêu gọi các doanh nghiệp sản xuất. Hiện tại một số tỉnh cũng đã theo như vậy. Còn đối với mạng lưới phân phối nước thì Nhà nước phải giữ. Nếu có huy động tư nhân nữa thì có thể theo phương pháp đầu tư công tư.
 
Bán lẻ thì tùy vào từng địa phương, tất nhiên cũng là Nhà nước nên giữ. Nghiên cứu tổng thể ở toàn Việt Nam, chúng tôi thấy những tỉnh nào có tư duy tổ chức thị trường tốt thì thị trường sẽ tốt và theo đấy mạng lưới cấp nước hoạt động tốt. Ví dụ TPHCM sau một giai đoạn cổ phần hóa, họ đã dừng cổ phần hóa đối với mạng lưới cung cấp nước. TPHCM có nghị quyết đặt mục tiêu đảm bảo 95% dân số có nước sạch.
 
Đối với sản xuất nước, hiện tại nên huy động tư nhân vào. Cái này khá giống ngành điện, sản xuất điện thì tư nhân tham gia vào rất thoải mái.
 
Quay trở lại vấn đề giá nước. Đây là vấn đề mấu chốt, 10 năm không điều chỉnh giá nước nghĩa là không có lợi nhuận cho tư nhân tham gia. Đương nhiên nước là hàng hóa thiết yếu, cũng phải khống chế lợi nhuận tối đa, không thể có giá nước cao quá được. Vậy thì phải giải quyết được bài toán tăng giá nước. Sẽ phải chia theo bậc thang và có trợ giá cho các nhóm đối tượng khó khăn như người nghèo người thu nhập thấp. Đối với những đối tượng có thu nhập cao hơn vẫn tính đúng tính đủ như các dịch vụ xã hội khác. Điều này dẫn đến phải chuyển sang nguồn lực để đầu tư cho thị trường tăng hơn mới thu hút được doanh nghiệp tham gia, chứ còn chúng ta vẫn giữ mức giá từ trước đến nay và không tăng giá nữa sẽ thiếu hụt nguồn lực đầu tư. Rõ ràng tiền từ ngân sách đã sụt giảm rất là nhiều, tư nhân không tham gia vào nữa thì chúng ta sẽ không có đủ nguồn.
 
Mấu chốt tôi nghĩ phải có luật về cấp nước, phải tạo được khuôn khổ rất rõ ràng, rành mạch thị trường và đảm bảo sự tham gia của tư nhân. Chi phí đầu tư mạng lưới cấp nước sạch là lớn nhất. Kể cả như tại Hà Nội, bây giờ nguồn cung rất lớn nhưng ở một số vùng ngoại ô như Thanh Trì, Sóc Sơn, chi phí đầu tư vào các mạng lưới rất lớn, cũng có thể sử dụng PPP ở đây. Tư nhân cũng có thể tham gia cùng với Nhà nước để đầu tư nhưng có thể chọn một số hình thức đầu tư, ví dụ như POO (xây dựng sở hữu chuyển giao sau), tạo điều kiện cho tư nhân tham gia vào, sẽ đảm bảo được cân đối trong thị trường nước sạch. Khi hoàn thiện, sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân tốt hơn, Nhà nước trong một số mảng phân phối giữ được quyền kiểm soát của mình và qua đó kiểm soát được chất lượng nước. Tôi nghĩ sẽ có một thị trường minh bạch mang tính bền vững và dài hạn hơn.

Trong tiến trình hướng đến mục tiêu mọi người bình đẳng trong tiếp cận nước sạch, Việt Nam đã tiến hành xã hội hóa, kêu gọi tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công thiết yếu này cho xã hội. Tuy nhiên, theo báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục Thống kê 2019, tỉ lệ hộ dân được tiếp cận nước máy chỉ chiếm 52%. Đặc biệt, tỉ lệ này ở nông thôn chỉ đạt gần 35%. Vậy vì sao việc xã hội hóa chưa thành công? Vấn đề này phải chăng do giá hay do cơ chế thưa ông?
 
Ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam: Các chính sách cổ phần hóa cho các doanh nghiệp, Nhà nước đã triển khai thực hiện. Tuy nhiên trong vài năm qua, đánh giá nước là mặt hàng đặc thù nên những người làm trong ngành nước cũng có thời gian nhìn nhận lại công tác cổ phần hóa. Thực ra có nhiều ví dụ về cổ phần hóa nhà nước thành công như Công ty CP cấp nước Bình Dương, Phú Thọ, Bà Rịa-Vũng Tàu. Khi cổ phần hóa thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng rất tốt.
 
Một là tăng công suất lên nhiều và nhà đầu tư có điều kiện để áp dụng các công nghệ, kỹ thuật mới nhằm tăng quy mô.
 
Hai là kiểm soát chất lượng rất tốt.
 
Ba là mở rộng vừng phục vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ.
 
Tuy nhiên, cũng phải đánh giá lại công tác cổ phần hóa, nhất là trong thời buổi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa nên các nhà đầu tư nước ngoài cũng có điều kiện vào đầu tư. Cơ chế quản lý, kiểm soát các công ty cổ phần hóa này sau khi cổ phần hóa như thế nào và các cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chưa cổ phần hóa hết hoặc Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối để tiếp tục thực hiện thì phải còn bước dài để đánh giá kỹ lưỡng, thận trọng hơn bởi nước là mặt hàng liên quan đến sức khỏe của người dân.
 
Tôi cho rằng hiện nay rất nhiều nhà đầu tư quan tâm đến vấn đề ngành nước, kể cả quy mô to hay nhỏ. Trong thị trường cấp nước, thoát nước, rất nhiều nhà đầu tư đi tìm các dự án để đầu tư và cũng huy động các kênh, nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đầu tư. Tuy nhiên, để được một dự án đầu tư vào một khu vực nhất định thì phải trải qua nhiều thủ tục như thỏa thuận với chính quyền địa phương, với giá nước, ứng dụng công nghệ, thi công, đấu thầu, lựa chọn chủ đầu tư,… Tất cả những yếu tố này làm cho các nhà đầu tư có những khó khăn nhất định trong quá trình đầu tư cho các dự án.
 
Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước: Việc cần thiết phải đề ra chính sách hoặc có sửa đổi luật làm sao để thu hút hơn nữa những nhà đầu tư để cấp nước cho người dân. Và chúng tôi thiên về công tác quản lý trong việc bảo đảm cấp nước an toàn cho người dân từ nguồn nước sạch vào đến vòi nước sạch cho người dân.

Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
 
Như tôi đã nêu vừa nãy là những vấn đề cấp bách xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiệu quả, thống nhất để làm sao quản lý được nguồn nước sạch cho người dân, bảo đảm được từ nguồn nước đến vòi nước sạch cho người dân cần có hệ thống pháp luật thông suốt, đặc biệt liên quan đến việc sửa đổi cơ chế, chính sách nhằm thu hút các nhà đầu tư tham gia nhiều hơn nữa.

Theo ông, các bất cập mà ông Vĩnh vừa chia sẻ có ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển, đầu tư của các DN?
 
Ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam: Trong lĩnh vực ngành nước, có các khái niệm: Nước sạch, nước hợp vệ sinh, nước máy. Trong đó nước sạch là cung cấp cho người dân, không màu, không mùi, không vị, có những khoáng chất và chất vi sinh có lợi cho sức khỏe của con người. Do số liệu thống kê dẫn tới cách hiểu khác nhau, nhưng phải nói các chỉ tiêu của ngành nước phát triển rất mạnh.
 
Các doanh nghiệp trong ngành cấp nước hiện nay cũng có vướng mắc trong cơ chế cần phải tháo gỡ. Ví dụ, Nghị định 117 quy định về cung cấp nước sạch, ban hành từ năm 2007, nghị định này căn cứ theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 thì đến 2015, Luật Tổ chức Chính phủ này hết hiệu lực nhưng chúng ta chưa sửa kịp Nghị định 117. Rõ ràng, cơ sở pháp lý sửa đổi Nghị định 117 liên quan tới cả ngành nước mà không sửa kịp. Lỗi này cần các cơ quan chức năng của Nhà nước phải khẩn trương sửa đổi để tạo hành lang pháp lý cho ngành nước phát triển.
 
Nước là mặt hàng đặc thù, vì vậy công tác đầu tư trong các doanh nghiệp cũng rất đặc thù. Ví dụ, vấn đề đầu tư, đấu thầu, lựa chọn chủ đầu tư thì có nhiều vấn đề vướng. Gần đây, có quyết định quy định không nâng tỉ lệ cổ phần của các doanh nghiệp cấp nước, nhưng nếu muốn mở rộng công suất thì vốn điều lệ phải tăng lên, nếu không tăng vốn điều lệ thì khả năng vay vốn và huy động vốn ở các kênh huy động vốn sẽ giảm.
 
Rõ ràng, phải rà soát cụ thể từng chính sách để tháo gỡ cho các doanh nghiệp cấp nước. Không chỉ liên quan đến lĩnh vực đầu tư, đấu thầu mà còn liên quan đến giá nước.
 
Giá nước trong rất nhiều năm được quy định trong Quyết định 117 là tính đúng tính đủ. Tuy nhiên, tính đúng tính đủ trong thời buổi giá cả vật tư đầu vào, điện, hóa chất, thiết bị ngành nước đều tăng, nếu không có lộ trình để hỗ trợ ngành nước thì quy mô sẽ giảm. Doanh nghiệp cấp nước khả năng thanh toán tất cả các đầu mối cấp nước sẽ ngày càng khó.
 
Trước mắt, chúng ta cần sửa đổi Nghị định 117, sau đó có Luật Cấp thoát nước và có cơ chế tháo dỡ cho các doanh nghiệp ngành nước phải cụ thể, tỉ mỉ. Đội ngũ chuyên gia về ngành nước của các bộ, ngành phải ngồi với nhau để đưa ra những chính sách cụ thể tháo gỡ cho các doanh nghiệp cấp nước.

Có ý kiến cho rằng sự đầu tư phát triển thị trường thời gian qua chưa xứng với tiềm năng của chúng ta có còn nhiều bất cập. Ông nhìn nhận thế nào về vấn đề này?
 
Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước: Việc đặt ra thu hút đầu tư trong lĩnh vực cấp nước cần xem xét, nghiên cứu trong vấn đề chính sách.
 
Trong khía cạnh quản lý tài nguyên, hiện nay để có một khối nước sạch đến với người dân, trách nhiệm quản lý về nguồn tài nguyên thuộc Bộ TN&MT; trách nhiệm cấp nước ở khu đô thị, theo vùng trách nhiệm thuộc Bộ Xây dựng; cấp nước nông thôn thuộc trách nhiệm Bộ NN&PTNT; điều tiết giá là Bộ Tài chính; quy chuẩn, tiêu chuẩn về nước sinh hoạt là Bộ Y tế.

 
Về cơ chế phối kết hợp trong thời gian tới, Bộ TN&MT đang được giao trách nhiệm sửa đổi Luật Tài nguyên nước làm sao đảm bảo an ninh nguồn nước, nhất là nước sinh hoạt, trong đó có những quy định cụ thể về trách nhiệm của các bộ, ngành để đảm bảo được nguồn nước sạch cho người dân, cho phát triển kinh tế-xã hội. Dự kiến năm 2023, Quốc hội sẽ xem xét và thông qua luật này. Trong đó, chúng tôi hy vọng sẽ có những chính sách cụ thể để đảm bảo nguồn nước cũng như có cơ chế thu hút tham gia các nguồn lực với ưu tiên cao nhất.
Theo ông, sự đầu tư về nước cũng như sự phát triển của thị trường nước trong thời gian qua đã phù hợp với thị trường chưa?
 
Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông: Đối với thị trường nước sạch như kết quả nghiên cứu của chúng tôi đúng là có sự tăng trưởng.
 
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những vấn đề khiến cho tỉ lệ cung cấp nước máy, đặc biệt vùng nông thôn, thấp hơn nhiều so với đô thị. Ngay cả ở Hà Nội, dù tổng công suất nước như đại diện Sở Xây dựng nói thì tỉ lệ tiếp cận khu vực nông thôn vẫn thấp.

Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
 
Có mấy nguyên nhân lớn. Thứ nhất là sự sụt giảm kinh phí đầu tư từ nguồn nhà nước, tức là ngân sách đầu tư cho dịch vụ công nước sạch của chúng ta sụt giảm. Mà nếu như ngân sách sụt giảm thì nguồn bù đắp sẽ đến từ khu vực tư nhân, tức là doanh nghiệp. Tuy nhiên thu hút đầu tư từ khu vực doanh nghiệp trong khoảng thời gian vừa rồi còn nhiều khó khăn từ cấu trúc thị trường cung cấp nước sạch chưa rõ ràng, rành mạch. Do đó việc đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp đầu tư còn đang hạn chế. Đơn cử như các doanh nghiệp phản ánh với chúng tôi họ gặp nhiều khó khăn, khi đã đầu tư rồi thì tỉ lệ thoát nước, cấp nước vào hệ thống thường không đạt được ngưỡng kì vọng. Hay các vấn đề về mặt giá cả cũng chưa được hạch toán đúng, tiến độ hạch toán tại doanh nghiệp chưa được đảm bảo… dẫn đến thị trường nước sạch dù vẫn được đánh giá là thị trường tương đối hấp dẫn, có nhiều doanh nghiệp lớn quan tâm vào đầu tư nhưng thực tế tỉ lệ đầu tư khá thấp. Ngay cả tại Hà Nội, có dự án rất lớn là dự án nhà máy nước Sông Hồng đã khởi công từ lâu nhưng đến nay vẫn gặp khó khăn chưa thể triển khai tiếp, dẫn đến là người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn, vẫn còn thiếu nước sạch.
 
Tôi đồng ý với đại diện Hội Nước sạch là năng lực của chúng ta đã tăng lên rất nhiều nhưng rõ ràng là với sức đô thị hóa và nhu cầu nước sạch lớn như vậy, kể cả phát triển khu công nghiệp, khu đô thị, phát triển nông thôn… thì vẫn còn đang chậm trễ trong các mục tiêu này. Để giải quyết vấn đề này, cần phát triển thị trường nước sạch lành mạnh, đảm bảo quyền lợi, đặc biệt cho các nhà đầu tư tư nhân, thì sẽ bù đắp được sự thiếu hụt của Nhà nước.

Là thành phố lớn bao gồm cả đô thị và vùng nông thôn, trong những năm qua, thị trường nước sạch ở Hà Nội được đầu tư thế nào thưa ông?
 
Ông Nguyễn Thế Công, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội: Nước sạch là nhu cầu thiết yếu của người dân. Đối với Thủ đô Hà Nội, vấn đề cung cấp nước sạch cũng như là bao phủ nước sạch cho người dân, bao gồm cả đô thị và nông thôn, luôn được cả hệ thống chính trị Thành phố quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện.
 
Trong những năm vừa qua, thành phố Hà Nội đã tổ chức nhiều hội nghị xúc tiến đầu tư để kêu gọi các nhà đầu tư tham gia triển khai các dự án cấp nước sạch trên địa bàn. Thành phố đã kêu gọi 23 nhà đầu tư nghiên cứu triển khai 40 dự án đầu tư nước sạch, trong đó có 11 dự án phát triển nguồn, 29 dự án phát triển mạng cấp nước cho toàn Thành phố.

Ông Nguyễn Thế Công, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
 
Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố và các cấp, các ngành, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và chung tay của toàn xã hội; đến nay tổng công suất nguồn cấp nước từ các nhà máy nước tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt khoảng 1.530.000 m3/ngày đêm, tăng khoảng 900.000 m3/ngày đêm so với năm 2016. Với tổng công suất các nguồn cấp hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho 100% người dân khu vực đô thị và khoảng 82% nước sạch cho người dân khu vực nông thôn.
 
Đến nay, trên địa bàn Thành phố đã có trên 253/413 xã được tiếp cận nguồn nước sạch từ việc đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung và xây dựng mạng cấp nước tập trung của Thành phố, tương đương với khoảng 82% người dân được tiếp cận hệ thống cấp nước sạch của Thành phố.

Qua chia sẻ của ông Vĩnh chúng ta thấy tỉ lệ người dân được dùng nước sạch còn chưa đồng đều. Vì sao Việt Nam là đất nước nhiều sông ngòi nhưng người dân được sử dụng nước máy chưa bao phủ hết thưa ông? Ông có thể chia sẻ về thực trạng phát triển của ngành nước thời gian qua?
 
Ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam: Các văn kiện Đại hội Đảng từ 2018 đến đại hội XIII đều đề cập đến vấn đề nước sạch cho người dân, điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của nước sạch. Cụ thể hóa vấn đề này, Chính phủ đã tập trung phát triển cấp nước cho cả vùng đô thị và nông thôn.
 
Đối với vùng đô thị có định hướng phát triển cấp nước từ năm 1998, đến năm 2009 đã sửa và năm 2016 đã có quyết định điều chỉnh định hướng phát triển cấp nước khu đô thị.

Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Điệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
 
Đối với khu vực nông thôn có chiến lược quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường. Từ năm 2000, có Quyết định 104 và đến năm 2021 mới đây, Thủ tướng ban hành Quyết định 978, trong đó quy định các cơ chế, mục tiêu cụ thể với ngành cấp nước cho người dân cả khu vực đô thị và nông thôn.
 
Về cấp nước, hiện nay có khoảng 250 doanh nghiệp cấp nước đô thị, trong đó có 50% chuyển từ công ty trách nhiệm một thành viên sang công ty cổ phần, có 8 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình trách nhiệm một thành viên. Tổng số hơn 750 nhà máy nước sạch khu vực đô thị và nông thôn có tổng công suất 11,2 triệu m3. Tỉ lệ dân cư được cung cấp nước sạch là 92%, tỉ lệ thất thoát hơn 17%. Nếu so với 30 năm trước, năm 1988, tổng công suất cấp nước phạm vi cả nước là 1,67 triệu m3 mà bây giờ là 11,2 triệu m3, gấp gần 10 lần. Phạm vi cấp nước của khu vực đô thị tăng 2 lần, tỉ lệ thất thoát từ 40% xuống còn hơn 17%. Nếu nhìn tổng thể ngành nước thì lạc quan hơn, đó là ngành nước có sự phát triển vượt bậc và mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân cũng như nhu cầu phát triển đất nước.
 
Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa đạt được yêu cầu, đặc biệt là chất lượng nước hoặc vùng phục vụ chưa bao quát đầy đủ. Tỉ lệ, thời gian cung cấp nước sạch cho người dân cũng chưa đáp ứng nhu cầu, mục tiêu chiến lược đề ra.
 
Việc này do nhiều nguyên nhân, chúng tôi nghĩ đầu tiên trong thể chế chính sách vẫn còn chồng chéo, có chỗ chưa cụ thể. Chính sách về đầu tư, đấu thầu, lựa chọn nhà đầu tư cho đấu thầu, chính sách cổ phần hóa, chính sách thu hút công nghệ xử lý nước sạch vẫn còn bất cập. Việc này Trung ương và Chính phủ đã chỉ đạo, trong đó Chính phủ đã có Nghị quyết giao Bộ Xây dựng nghiên cứu đối với vấn đề cấp thoát nước. Vì vậy, những vấn đề về văn bản, quy phạm pháp luật của vấn đề cấp thoát nước trong thời gian tới sẽ được giải quyết.

Hiện tại tỉ lệ hộ dân có thể tiếp cận nước máy chỉ chiếm khoảng 52%, có 22,8% hộ sử dụng nguồn nước giếng khoan. Như vậy chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương trình Quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn giai đoạn 2016-2025. Vì sao con số này lại thấp như vậy thưa ông? 
 
Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường): Theo số liệu thống kê của chúng tôi, hiện nay cả nước có khoảng 4.500 hệ thống công trình cho cả đô thị và nông thôn với công suất đến khoảng 11 triệu m3, đang khai thác hằng ngày khoảng 8,3 triệu m3, tập trung chủ yếu là khai thác nguồn nước mặt là 87% và nước ngầm là 13%. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ quản lý về nguồn. 
 
Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT đối với cấp nước đô thị và nông thôn vừa rồi, con số này chiếm 80% người dân đô thị được tiếp cận nước sạch, 62% người dân nông thôn được tiếp cận nước sạch, con số có thể vênh do cách thống kê như MC nêu ra. Theo ngành nông nghiệp, họ có thể tính con số theo cách nước hợp vệ sinh… 
 
Về góc độ Bộ TN&MT, chúng tôi cho rằng có 2 nguyên nhân chính. Với cấp nước đô thị, do dân số tăng, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, hệ thống cấp nước đô thị có nhiều khó khăn trong đảm bảo nguồn nước sạch cho người dân. Đặc biệt, những đô thị lớn và lâu có tình trạng hệ thống cấp nước có sự suy giảm, sự phát triển về mặt đường ống cấp nước, phải có cơ chế tập trung đẩy mạnh. Đơn cử là chúng ta đang có sự đô thị hoá rất nhanh, tuy nhiên chức năng quản lý là ngành xây dựng quản lý cấp nước đô thị, ngành NN&PTNT quản lý cấp nước nông thôn. Lúc triển khai ra thực tế, nhiều địa phương ở xã lên phường nên do chưa rõ trách nhiệm cấp nước đô thị hay nông thôn. Ví dụ như Xuân Phương trước thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội, trước đây có hệ thống cấp nước tương đối tốt theo hiện trạng cấp nước tập trung nông thôn, khi lên phường thì Công ty cấp nước Hà Nội kéo đường ống đến, nhiều khi có cả tình trạng chồng lấn đường ống. 
 
Ngoài ra, còn vấn đề giá nước và thói quen sử dụng nước của người dân, đặc biệt là người dân nông thôn. Nếu để đủ chi phí vận hành, giá nước phải ở một mức nhất định. Người dân có thói quen sử dụng nước hợp vệ sinh nhưng theo hành vi, thói quen của gia đình như nước giếng khoan, nước mưa… nên có những yếu tố chưa đảm bảo chất lượng.


 

Nguồn tin: baochinhphu.vn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 


Ngày nước thế giới 2021
1
1
1
1
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
2021 << 8/2022 >> 2023
LIÊN KẾT WEBSITE :
1
1
1
1
1

Thống kê

thoi trang Đang truy cập : 62

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 60


thoi trang cong so Hôm nay : 2803

áo khoác nữ Hàn Quốc Tháng hiện tại : 486549

áo sơ mi nữ công sở Tổng lượt truy cập : 39801817

áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi