Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Khoa học - Công nghệ

Tác động của việc sử dụng nước ngầm dẫn đến tăng mực nước biển

Thứ tư - 20/05/2015 10:21
Khi con người tiến hành bơm nước ngầm để tưới tiêu, sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt , công nghiệp thì nước không hoàn toàn ngấm hết vào lòng đất mà còn bay hơi bốc vào khí quyển, chảy vào các sông hồ và cuối cùng chảy ra đại dương. Lượng nước chảy ra đại dương đang ngày càng nhiều thêm lên, ước tính đến năm 2050, lượng nước có nguồn gốc từ nước ngầm sẽ là nguyên nhân gây ra tăng mực nước biển lên khoảng 0.8mm mỗi năm.

“Khác với băng trên lục địa, nước ngầm khai thác quá mức sẽ là nguyên nhân quan trọng chính gây tăng mực nước biển” - Yoshihide Wada cùng với các tác giả tại trường Đại học Utrecht, Hà Lan đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này. Ông cho hay, trong những thập kỉ tới, lượng nước ngầm chảy ra đại dương sẽ tăng lên và góp phần gây ra tình trạng dâng cao mực nước biển ngang với lượng nước từ băng tan của Bắc Cực và Nam cực.
 
Vào giữa thập niên 70 và 90 của thế kỷ XX, mực nước biển dâng cungxcos nguyên nhân từ việc gia tăng sử dụng nước ngầm, ông Wada cho biết. Nghiên cứu của ông chỉ ra rằng bắt đầu vào những năm 90 người dân bắt đầu dùng máy bơm để bơm nước ngầm sử dụng nhiều hơn và đây cũng là nguyên nhân khiến cho xây dựng thủy điện ít hơn.
 
Các nhà nghiên cứu đã xem xét không chỉ vấn đề ở sự đóng góp của việc bơm nước ngầm đã điều tra trước đây, họ còn tiến hành điều tra thêm các yếu tố khác ảnh hưởng đến lượng nước từ lục địa chảy ra đại dương bao gồm nước đầm lầy, chảy xói mòn từ các khu rừng bị tàn phá và các hồ chứa mới. Ông Wada và các đồng nghiệp tính toán rằng vào giữa thế kỉ XXI, hệ quả gây ra của các yếu tố này sẽ tăng thêm mực nước biển dâng 0.05mm mỗi năm. Nghiên cứu này của nhóm nghiên cứu đã được công bố vào ngày 9/5/2015 trên tạp chí Địa Vật lý của Hiệp Hội Địa Vật Lý Hoa Kì.
 
Báo cáo mới nhất của Ủy ban liên chính phủ Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu năm 2007 đưa ra những cách thức giải quyết các tác động của mực nước biển dâng do băng tan bao gồm cả các dòng sông băng và băng vĩnh cửu ở các cực của trái đất, ông Wada cho biết rằng nghiên cứu này là chưa đủ vì nó chưa tính đến sự đóng góp của các nguồn nước từ các lục địa chảy ra đại dương như nước ngầm, đất ngập nước, hồ chứa và các nguồn khác . Ông cho rằng, báo cáo không đề cập đến các nguồn này bởi vì các tính toán cụ thể về các nguồn này đều rất không chắc chắn.
 
Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu ước tính tác động của sự suy giảm nước ngầm từ năm 1900 bằng cách sử dụng dữ liệu về việc bơm nước ngầm từ các nước riêng lẻ, sử dụng mô phỏng mô hình của nước ngầm, và tái tạo nhu cầu nước đã thay đổi trong những năm qua. Họ cũng so sánh và điều chỉnh các ước tính, với các quan sát từ các nguồn như các vệ tinh GRACE, trong đó sử dụng các phép đo trọng lực để xác định các biến thể trong lưu trữ nước ngầm.
 
Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu ước tính tác động của sự suy giảm nước ngầm từ năm 1900 bằng cách sử dụng dữ liệu về việc bơm nước ngầm từ các nước riêng lẻ, sử dụng mô phỏng mô hình của nước ngầm, và tái tạo nhu cầu nước đã thay đổi trong những năm qua. Họ cũng so sánh và điều chỉnh các ước tính, với các quan sát từ các nguồn như các vệ tinh GRACE, trong đó sử dụng các phép đo trọng lực để xác định các biến thể trong lưu trữ nước ngầm.
 
Với tốc độ suy giảm nguồn nước ngầm hiện nay, Ông Wada và các đồng nghiệp của ông tính toán rằng vào năm 2000, con người đã tiến hành khoan lên khoảng 204 km3 nước ngầm, phần lớn là dành cho tưới tiêu. Hầu hết lượng nước này được bốc vào khí quyển qua lá cây và mưa lại rơi xuống trở lại. Tính toán kĩ hơn về lượng nước thấm trở lại vào các tầng chứa nước cũng như lượng nước bốc hơi và mưa thì các nhà nghiên cứu thấy rằng lượng nước ngầm bơm lên này đóng góp khoảng 0.57mm trong năm 2000 - nhiều hơn rất nhiều mực nước biển dâng vào năm 1900 là 0.035mm.
 
Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành nghiên cứu dự án suy giảm nước ngầm, các hồ chứa, và các tác động khác trong cuối của thế kỉ XX, sử dụng mô hình thời tiết và và các dự án về tăng trưởng dân số và thay đổi sử dụng đất. Kết quả cho thấy, tốc độ suy giảm, cạn kiệt nước ngầm  giữa những năm 1900 và 2000 hầu hết là do nhu cầu gia tăng. Nhưng những sự gia tăng dự báo giữa năm 2000 và năm 2050 hầu hết là do các yếu tố liên quan đến khí hậu như giảm lượng nước mặt và nước tưới tiêu cho nông nghiệp hầu hết bị bay hơi do thời tiết ngày càng âm hơn.
Ông Wada ước tính rằng, nếu mọi thứ tiếp tục như dự tính thì đến năm 2050, mạng lưới ảnh hưởng tích lũy của  băng, nguồn nước trên đất liền và các hồ chứa (kể cả bơm nước ngầm, đầm lầy, đập nước và các nguồn khác) sẽ có thêm 31 mm với mực nước biển tăng lên kể từ năm 1900.
 
Nghiên cứu mới cho rằng, nơi có nước ngầm, mọi người sẽ tìm thấy một cách để thai thác triệt để nó, Wada cho biết, nhưng một số đồng nghiệp của ông đang điều tra các giới hạn khai thác nước ngầm. Đây cũng là một cách để giảm đóng góp của nước ngầm đối với mực nước biển dâng, ông lưu ý, là để nâng cao hiệu quả nước trong phát triển nông nghiệpcần sử dụng ít nước ngầm hơn. 
 

Tác giả bài viết: Lê Oanh (dwrm dịch)

Nguồn tin: American Geophysical Union

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi