Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Tài nguyên nước

Đồng bằng sông Cửu Long: Cần quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước

Thứ hai - 27/06/2016 15:16
Người dân túc trực chờ nước lên bơm cho diện tích rau của gia đình.

Người dân túc trực chờ nước lên bơm cho diện tích rau của gia đình.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với địa hình trũng, là hạ lưu của sông Mê Công, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt… được đánh giá là vùng trữ nước ngọt lớn nhất cả nước.

Thế nhưng, trên thực tế, tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa và nước ngầm ở vùng ĐBSCL đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Do vậy, việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước của khu vực ĐBSCL là rất cấp thiết.
 
Nguồn nước bị đe dọa
 
Đã gần 60 năm sống ở vùng sông nước nhưng chưa bao giờ ông Thạch Sơn, ngụ huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng) chứng kiến cảnh lòng sông cạn trơ đáy như những ngày hạn mặn vào tháng 3, tháng 4 vừa qua. Ông cho biết: “Từ trước đến nay không riêng tôi mà hầu hết bà con đều không nghĩ rằng có ngày nước sông lại cạn đến vậy. Trước đây đến thời điểm tháng 8, tháng 9 là lũ tràn đồng, thậm chí ngập cả nhà dân, vậy mà giờ không có lũ, nước sông cũng cạn khô”.


Nước ở các tuyến kênh thuộc huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng) bị cạn.
 
Hơn 15 năm trước, ĐBSCL luôn đối diện với những trận lũ kinh hoàng. Hàng nghìn người dân phải sơ tán, thậm chí bỏ xứ đi nơi khác mưu sinh khi lũ về. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2010 đến nay, ĐBSCL gần như không có lũ mà chỉ có mùa nước nổi ở một số nơi. Nguồn tích nước cạn kiệt đẩy khu vực này vào thế phải đối diện với hạn hán, xâm nhập mặn đến sớm, bao phủ và lấn sâu vào nội đồng. Tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) mà đặc biệt là hạn hán và xâm nhập mặn đã làm nguồn nước sông cạn dần và ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), từ cuối năm 2015 đến nay tổng diện tích cây trồng bị thiệt hại do thiếu nước khoảng 210.000ha, khoảng 250.000 hộ gia đình với hơn 1,3 triệu người thiếu nước sinh hoạt. Và theo nhận định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), hiện nay dòng chảy tại khu vực thượng nguồn sông Mê Công giảm, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua.
 
Theo PGS, TS Đoàn Văn Cánh, Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam: “Chúng ta đang sử dụng 12% lượng nước ngọt, trong đó chỉ 1% nước bề mặt, còn lại 11% là nước ngầm có thể khai thác được. Hiện ĐBSCL đang đứng trước thách thức lớn về bảo đảm an ninh nguồn nước. Từ năm 2015, trung bình vùng ĐBSCL đã bị tụt giảm lượng nước ngầm xuống 15m. Nếu như trước kia, chỉ cần đào sâu khoảng 100m đã có thể khai thác được nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, thì hiện nay phải đào sâu gấp đôi và vẫn có một tỷ lệ lớn nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, nhiễm hóa chất không sử dụng được”.
 
GS, TS Stefan Norra, chuyên gia Cộng hòa Liên bang Đức, người nghiên cứu sử dụng bền vững nguồn nước ngầm ở khu vực Đông Nam Á, cho biết, nguồn nước ngầm ở Đông Nam Á đang bị đe dọa bởi ô nhiễm thạch tín (Asen) trong địa chất, nồng độ thạch tín trong nước nhiều nơi đã vượt mức an toàn (trên 10μg/l); thạch tín tác động rất lớn đến sức khỏe của người sử dụng nước bị nhiễm, dẫn đến tác động tâm lý và sức khỏe người dân. “Nguồn nước ngầm ở ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ nhiễm thạch tín, cần phát hiện nồng độ thạch tín trong nguồn nước ngầm càng sớm càng tốt bởi về lâu dài, thạch tín có nhiều mối nguy hiểm cho sức khỏe”-GS, TS Stefan Norra cảnh báo.
 
Lý giải nguyên nhân dẫn đến tình trạng cạn dần nguồn nước, PGS, TS Đoàn Văn Cánh, Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam cho rằng: “Ngoài nguyên nhân do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, điều kiện khí hậu, thủy văn, tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người, như khai thác quá mức, sử dụng lãng phí, gây ô nhiễm... Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế-xã hội, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa không được quy hoạch phát triển một cách khoa học đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, trữ lượng nguồn nước... Ngoài ra, việc khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công, cùng với việc xây dựng ồ ạt các đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Công đã ảnh hưởng trực tiếp đến vùng ĐBSCL”.
 
Cần có giải pháp căn cơ, đồng bộ
 
Theo Viện Biến đổi khí hậu Trường Đại học Cần Thơ, hiện nguồn nước sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL chiếm 70%, nước dùng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chỉ chiếm hơn 20% và gần 10% lượng nước còn lại được sử dụng cho sinh hoạt của người dân. Con số trên cho thấy, nhu cầu nước ngọt dùng cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực ĐBSCL là rất lớn. Tuy nhiên, PGS, TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu Trường Đại học Cần Thơ nhận định: “ĐBSCL nên có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý, bớt trồng lúa. Vì để có 1 tấn lúa, cần đến 4.500-5.000m3 nước. Cần phải tính toán: Đánh giá 1m3 nước được bao nhiêu tiền thay vì đánh giá trên năng suất. Đây là cách để chúng ta tăng nhận thức về tài nguyên”. Ông cũng chỉ ra rằng, cần phải chuyển đổi một nửa diện tích lúa mùa khô sang hoa màu sử dụng ít nước như bắp, mè, đậu... hay nuôi trồng thủy sản. Song song đó là áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt nhằm tiết kiệm nước.
 
GS, TS Franz Nestmann, Học viện Công nghệ Karlsruhe, cảnh báo: Nguồn tài nguyên nước của vùng ĐBSCL đang đứng trước nhiều nguy cơ bị suy kiệt về số lượng và chất lượng, có thể dẫn đến những thảm họa do các yếu tố lũ lụt, sụt lún đất do khai thác quá mức tầng nước ngầm ở bán đảo Cà Mau, sóng biển tàn phá các đê chắn sóng, xói lở đất, xâm nhập mặn, do việc xây dựng các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công,… Vì thế, muốn bảo vệ và quản lý tốt nguồn tài nguyên nước trong tương lai, các địa phương vùng ĐBSCL cần tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ hiện đại bảo đảm cho sự phát triển hài hòa, bền vững của toàn vùng.


Người dân ở Sóc Trăng chờ nước để bơm lên cứu lúa. 
 
Đồng quan điểm trên, Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh, Chánh văn phòng Công tác Biến đổi khí hậu TP Cần Thơ, cho biết: "Việc khai thác nước ngầm quá mức sẽ dẫn đến tình trạng sụt lún đất. Trong khoảng thời gian trước năm 2010, mức độ lún đất ở ĐBSCL 1-2 cm/năm. Diễn biến thời tiết ở các đô thị cũng diễn tiến thất thường không theo các kịch bản mô phỏng, dự báo trước. Dự báo mức độ sẽ nghiêm trọng hơn. Để quản lý hiệu quả nguồn nước, trong trường hợp bình thường cần nâng cao trình độ của người dân về nước; xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn; hiện đại hóa công tác cảnh báo; chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Ngoài ra cần có những giải pháp công trình như: Phục hồi vùng đất ngập nước; lắp hệ thống hồ chứa nước phân tán”.
 
Đề cập đến vấn đề quản lý nguồn nước ngầm, vốn đang bị suy kiệt nghiêm trọng những năm gần đây, nhóm nghiên cứu gồm GS, TS Harro Stolpe, TS Katrin Bromme-Trường Đại học Bochum, PGS, TS Đoàn Văn Cánh, Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam khuyến nghị một số giải pháp như: “Cần kiểm soát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc việc cấp giấy phép khai thác nước ngầm, tiến tới thu phí sử dụng nước, đặc biệt là với ngành công nghiệp; có các quyết định cấp vùng hoặc cấp tỉnh, thành phố cho việc sử dụng nước ngầm cho nông nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp; cấm hoặc giảm khai thác nước ngầm nhỏ lẻ, tập trung khai thác nước ngầm ở các nhà máy nước quy mô nhỏ và vừa; bổ sung nước ngầm bằng nước mưa; điều phối nước đến những vùng khan hiếm nước để tạo sự cân bằng nước ở các địa phương trong vùng”.
 
Đề xuất về phương pháp quản lý nguồn nước ở ĐBSCL, ông Stefan Norra cho rằng: Cần có lộ trình và tính đến trường hợp xấu nhất. Phải có nhiều giải pháp; có sự phối hợp toàn diện về nhiều mặt, những giải pháp kỹ thuật, kế hoạch, quản lý, quản lý nước ngầm mang tính tổng thể. Cần quản lý, quan trắc bảo vệ chất lượng nước, có cơ chế quản lý cho toàn bộ vùng ĐBSCL để giúp mọi người có thể sử dụng nước sạch.
 
Cùng với đó, GS, TS Franz Nestmann cho biết: "Việc đưa nước ngọt trở lại mạch nước ngầm là một giải pháp khả thi để ngăn chặn việc xâm nhập mặn, phục vụ cho việc sản xuất ở vựa lúa này”.

Tác giả bài viết: An Nguyên

Nguồn tin: qdnd.vnd.vn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe