Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Tài nguyên nước

Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Bộ quý I năm 2020

Thứ sáu - 08/05/2020 08:49
Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n 2), tầng chứa nước Pliocene hạ (n 1). Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất quý I năm 2020 được thể hiện chi tiết như sau:

Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3)

Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước có xu thế hạ so với quý I năm 2019. Giá trị hạ thấp nhất là 2,45m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP HCM (Q01302DM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,35m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP HCM (Q01302BM1). Trong quý I: Mực nước trung bình quý sâu nhất là -11.54m tại phường 3, TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (Q409020M1) và mực nước trung bình quý nông nhất là - 1,51m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302F). 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình quý I so với cùng thời điểm 5 năm, 10 năm và 20 năm trước. Mực nước suy giảm lớn nhất so với so với cùng quý 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước lần lượt là 2,72m; 3,16m và 4,24m tại huyện Củ Chi, TP HCM; TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An.

Nhìn chung độ mặn của nước mùa mưa năm 2019 tại đa số các công trình quan trắc nhỏ hơn 1500mg/l (nước nhạt), một số nơi vượt quá giới hạn cho phép như: Độ mặn từ 1500 - 3000mg/l (nước lợ): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh Long An, An Giang, TP Cần Thơ. Độ mặn >3000mg/l (nước mặn): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp. 

Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3) 

Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước có xu thế hạ là chính với quý I năm 2019. Giá trị hạ thấp nhất là 2,18m tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP HCM (Q007030) và giá trị dâng cao nhất là 0,99m tại xã Đông Hưng Thuận, Quận 12, TP HCM (Q019340). Trong quý I: Mực nước trung bình quý sâu nhất là -31,51m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340) và mực nước trung bình quý nông nhất là -2,86m tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (Q014340).

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình quý I so với cùng thời điểm 5 năm, 10 năm và 20 năm trước. Mực nước suy giảm lớn nhất so với so với cùng quý 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước lần lượt là 2,61m; 4,73m và 16,18m tại huyện Tân Trụ, tỉnh Long An và Quận 12, TP.HCM. 

Nhìn chung độ mặn của nước mùa mưa năm 2019 tại đa số các công trình quan trắc nhỏ hơn 1500mg/l (nước nhạt), một số nơi vượt quá giới hạn cho phép như: Độ mặn từ 1500 - 3000mg/l (nước lợ): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh An Giang. Độ mặn >3000mg/l (nước mặn): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh Long An, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh.

Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1)

Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước xu thế hạ so với quý I năm 2019. Giá trị hạ thấp nhất là 1,33m tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Q220040M1) và giá trị dâng cao nhất là 1,68m tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (Q039340M1).Trong quý I: Mực nước trung bình quý sâu nhất là -20,69m tại phường Hiệp Thành, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q017030M1) và mực nước trung bình quý nông nhất là -2,72m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020). 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình quý I so với cùng thời điểm 5 năm, 10 năm và 20 năm trước. Mực nước suy giảm lớn nhất so với so với cùng quý 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước lần lượt là 3,12m; 4,09m và 5,55m tại huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Nhìn chung độ mặn của nước mùa mưa năm 2019 tại đa số các công trình quan trắc nhỏ hơn 1500mg/l (nước nhạt), một số nơi vượt quá giới hạn cho phép như: Độ mặn từ 1500 - 3000mg/l (nước lợ): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh Long An, Sóc Trăng, Kiên Giang. Độ mặn >3000mg/l (nước mặn): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh. 

Tầng chứa nước Pliocene trung (n22) 

Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước xu thế hạ so với quý I năm 2019. Giá trị hạ thấp nhất là 1,12m tại xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Q406040) và giá trị dâng cao nhất là 4,88m tại TT Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (Q21104T). Trong quý I: Mực nước trung bình quý sâu nhất là -25,33m tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q011040) và mực nước trung bình quý nông nhất là -3,48m tại phường 1, TX Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q22104Z). 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình quý I so với cùng thời điểm 5 năm, 10 năm và 20 năm trước. Mực nước suy giảm lớn nhất so với so với cùng quý 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước lần lượt là 4,47m; 8,06m và 10,08m tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An và Quận 12, TP HCM.

Nhìn chung độ mặn của nước mùa mưa năm 2019 tại đa số các công trình quan trắc nhỏ hơn 1500mg/l (nước nhạt), một số nơi vượt quá giới hạn cho phép như: Độ mặn từ 1500 - 3000mg/l (nước lợ): phân bố tại công trình quan trắc thuộc
tỉnh Kiên Giang. Độ mặn >3000mg/l (nước mặn): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc tỉnh Trà Vinh, Long An, Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, TP Hồ Chí Minh.

Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21)

Diễn biến mực nước dưới đất quý I năm 2020: nhìn chung mực nước hạ so với quý I năm 2019. Giá trị hạ thấp nhất là 3,95m tại xã Tập Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Q40404Z) và có một công trình mực nước dâng với giá trị là 050m tại TT Tân Túc, huyện Bình Chánh, TP.HCM (Q605060). Trong quý I: Mực nước trung bình quý sâu nhất là -23,27m tại xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Q604060) và mực nước trung bình quý nông nhất là - 5,64m tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Q222040). 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình quý I so với cùng thời điểm 5 năm, 10 năm và 20 năm trước. Mực nước suy giảm lớn nhất so với so với cùng quý 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước lần lượt là 4,75m; 8,39m và 9,588m tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Nhìn chung độ mặn của nước mùa mưa năm 2019 tại đa số các công trình quan trắc nhỏ hơn 1500mg/l (nước nhạt), một số nơi vượt quá giới hạn cho phép như: Độ mặn từ 1500 - 3000mg/l (nước lợ): phân bố tại công trình quan trắc thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Cà Mau, Long An. Độ mặn >3000mg/l (nước mặn): phân bố tại các công trình quan trắc thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Trà Vinh, Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh.

Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Bộ quý I năm 2020 xin mời xem Tại đây.
 
 

Tác giả bài viết: DWRM

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 


Ngày nước thế giới 2020
1
1
1
1
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
2019 << 7/2020 >> 2021
LIÊN KẾT WEBSITE :
1
1
1
1
1

Thống kê

thoi trang Đang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 9

Khách viếng thăm : 23


thoi trang cong so Hôm nay : 5397

áo khoác nữ Hàn Quốc Tháng hiện tại : 91556

áo sơ mi nữ công sở Tổng lượt truy cập : 28096651

áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi