Trang nhất » Tin tức - Sự kiện » Tài nguyên nước

Lâm Đồng: Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2021

Thứ hai - 16/08/2021 16:14
Lâm Đồng là một tỉnh thuộc lưu vực sông Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 9.764,8 km2. Trong phạm vi tỉnh hiện nay có 37 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất và 02 trạm quan trắc TNN mặt Đại Ninh và Cát Tiên.

Đối với tài nguyên nước mặt.

Tổng lượng mưa năm bình quân từ 1.750 – 3.150mm, trong đó lượng mưa mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm; mùa khô (từ tháng 12 – 4 năm sau) lượng mưa chiếm 20% tổng lượng mưa năm.

Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 11043’ vĩ độ Bắc, 108022’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 2 năm 2012. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Tổng lượng nước.

Tại Trạm Đại Ninh, Mực nước trung bình tháng 7 năm 2021 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88040cm, tăng 18cm so với tháng trước, tăng 09cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 20cm so với giá trị tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị lớn nhất là 88183cm (ngày 09/7), giá trị nhỏ nhất là 88002cm (ngày 30/7).

Tháng 7 năm 2021, tại trạm Đại Ninh có lưu lượng nước trung bình tháng là 17,1m3/s, tăng 8,41m3/s so với tháng trước, tăng 4,33m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 7 năm 2021, tổng lượng nước trên sông Đa Nhim chảy qua mặt cắt ngang tại trạm quan trắc Đại Ninh vào khoảng 45,7 triệu m3, tăng khoảng 23,3 triệu m3 so với tháng trước.

Tại Trạm Cát Tiên, Mực nước trung bình tháng 7 năm 2021 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12776cm, giảm 42cm so với tháng trước, tăng 119cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 72cm so với giá trị tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị lớn nhất là 12917cm (ngày 20/7), giá trị nhỏ nhất là 12657cm (ngày 05/7).

Tháng 7 năm 2021, tại trạm Cát Tiên có lưu lượng trung bình tháng là 163m3/s, giảm 25,3m3/s so với tháng trước, tăng 66,2m3/s so với tháng cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 7 năm 2021, tổng lượng nước trên sông Đồng Nai chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Cát Tiên vào khoảng 436 triệu m3, giảm khoảng 51,7 triệu m3 so với tháng trước.

Chất lượng nước

Tại trạm Đại Ninh, kết quả phân tích chất lượng nước sông và kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông Đa Nhim ở mức trung bình, có thể đáp ứng cho việc sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (do các chỉ tiêu NO2-, N-NH4, E.coli tăng cao).

Tại trạm Cát Tiên, kết quả phân tích chất lượng nước sông và kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông Đồng Nai ở mức xấu, có thể đáp ứng cho cho giao thông thủy và các mục đích tương đương khác (do các chỉ tiêu DO, Coliform, E.coli tăng cao).

Đối với tài nguyên nước dưới đất

Trong tỉnh được phân chia thành 3 tầng chứa nước chính, bao gồm: Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp). Theo báo cáo thuộc dự án “Biên hội – thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước chính như sau: Tầng chứa nước (Q) là 59.414 m3/ngày, tầng chứa nước (βqp) là 367.638 m3/ngày, tầng chứa nước β(n2-qp) là 3.326.719 m3/ngày.

Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ so với tháng 6. Giá trị hạ thấp nhất là 0,41m tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng (LK107aT). Giá trị dâng cao nhất là 0,25m tại TT.Đinh Văn, huyện Lâm Hà (LK119T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,21m tại xã Tân Văn, huyện Lâm Hà (LK117T) và trung bình tháng sâu nhất là -9,40m tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng (LK107aT). Trong tháng 8 và tháng 9 mực nước có xu hướng dâng.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

Theo kết quả quan trắc tại xã Phú Hội, huyện Đức Trọng (LK112T) mực nước trung bình tháng 7 dâng 0,08m so với tháng 6. Trong tháng 8 và tháng 9 mực nước tại công trình LK112T có xu hướng dâng.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 hạ so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 0,98m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc (C10b) . Giá trị hạ thấp nhất là 2,38m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc (C10a).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,82m tại xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm (LK94T) và trung bình tháng sâu nhất là -123,71m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc (C10o). Trong tháng 8 và tháng 9 mực nước có xu hướng dâng.

KẾT QUẢ QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỈNH LÂM ĐỒNG THÁNG 8 NĂM 2021 XIN MỜI XEM TẠI ĐÂY.


 
 

Tác giả bài viết: DWRM

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
áo khoác nữ Hàn Quốc vay dep thời trang LOZA thiết kế bộ nhận diện thương hiệu lò hơi nồi hơi rèm cửa giá rẻ Dong phuc nhom san panel Máy làm đá viên công nghiệp Máy sản xuất đá viên Máy xay đá may lam da vien cáp nhôm bọc xlpe giá treo tivi