Diễn đàn chuyên đề quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL

Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu khai mạc Diễn đàn

Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu khai mạc Diễn đàn

Trong khuôn khổ Hội nghị đánh giá kết quả 02 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH), sáng 18/6/2019, tại TP.HCM, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Diễn đàn chuyên đề quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà tham dự và chủ trì Diễn đàn cùng Tổng lãnh sự Vương quốc Hà Lan tại TP. Hồ Chí Minh - Ông Carel Richter; Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Công Thành; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp.


Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu khai mạc Diễn đàn chuyên đề quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL
 
Tham dự Hội nghị có ông Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cùng lãnh đạo 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL và TP.HCM, các nhà khoa học, chuyên gia, tổ chức quốc tế…
 
Phát biểu khai mạc tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, sau gần 2 năm Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết 120/NQ-CP và các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, đã xác định giải pháp trước mắt và lâu dài cho ĐBSCL; vùng chịu áp lực của BĐKH, tác động kép nội tại trong sự phát triển, phát triển quá mức không theo quy hoạch; tài nguyên nước được coi là vấn đề cốt lõi để xem xét các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP. Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá việc khai thác và tổng hợp tài nguyên nước? Cơ chế, quản lý liên vùng, tiếp cận trên cả vùng Mekong, làm sao để phát triển, dựa trên tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, khai thác trên 3 tiểu vùng mặn, ngọt, lợ. “Diễn biến của BĐKH đang đến nhanh hơn nhiều so với kịch bản mà chúng ta dự báo. Nên cần đánh giá lại hiện tượng sạt lở, xâm thực bờ biển, bờ sông đang diễn ra như thế nào để giải quyết bờ sông, bờ biển dựa trên các quy hoạch…”- Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh.


Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy phát biểu tại Diễn đàn
 
Theo Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Phòng chống thiên tai - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ĐBSCL đang đối diện với những thách thức về tình hình lũ lụt, xâm nhập mặn và sạt lở bờ sông, bờ biển. Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 đến nay có 4 năm xảy ra lũ lớn, 6 năm lũ vừa và 7 năm lũ nhỏ. Lũ có xu hướng đến muộn hơn so với trước đây. Từ năm 2010 trở về trước, đỉnh lũ chính vụ hầu hết xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10. Từ năm 2010 trở lại đây, các trận lũ hầu hết xuất hiện vào giữa tháng 10 (chậm hơn so với giai đoạn trước khoảng 10 ngày). Từ năm 2010 đến nay, số trận lũ lớn giảm so với trước kia, chủ yếu xuất hiện các lũ vừa và lũ nhỏ (chiếm đến khoảng 90%), lũ đầu vụ (tháng 8) cũng suy giảm nghiêm trọng.
 
Về hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, vào các tháng mùa khô, ĐBSCL chịu tác động mạnh bởi xâm nhập mặn, đây là đặc tính của vùng, mức độ xâm nhập những năm trước đây có tính quy luật tương đối rõ rệt. Tuy nhiên trong những năm gần đây, do BĐKH và nguồn nước thượng lưu sông Mê Công về ĐBSCL đã thay đổi quy luật tự nhiên bởi việc xây dựng, vận hành các hồ chứa thủy điện thượng lưu, dẫn đến xâm nhập mặn có những thay đổi lớn, gây khó khăn trong việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Cụ thể, thời gian xâm nhập mặn có xu hướng xuất hiện sớm hơn trước đây từ 1 đến 1,5 tháng. Giai đoạn trước năm 2012, mặn thường xâm nhập đáng kể từ tháng 2 đến tháng 4, đỉnh mặn xuất hiện vào cuối tháng 3 hoặc tháng 4 (là tháng có dòng chảy kiệt nhất). Những năm gần đây thường xuyên xuất hiện dòng chảy thượng nguồn đầu mùa khô về thấp, xâm nhập mặn bắt đầu từ cuối tháng 12 năm trước, đỉnh mặn xuất hiện vào tháng 2; hoặc đầu tháng 3 năm sau.
 
Phạm vi xâm nhập mặn tăng so với trước đây, ranh mặn 4g/l trước đây chỉ vào sâu nhất đến 60 km ở các cửa sông Cửu Long ở những năm bị xâm nhập cao, còn nay xảy ra thường xuyên hơn, điển hình đợt xâm nhập mặn kỷ lục năm 2016, chiều sâu xâm nhập mặn cao nhất lên tới 90 km. Tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển, từ năm 2010 tới nay sạt lở diễn biến ngày càng phức tạp và có mức độ gia tăng cả về phạm vi và mức độ nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển. Trung bình hàng năm, xói lở đã làm mất khoảng 300 ha đất, rừng ngập mặn ven biển. Theo số liệu thống kê, hiện khu vực ĐBSCL có 564 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 834 km, trong đó sạt lở bờ sông 512 điểm với tổng chiều dài khoảng 566km (chủ yếu diễn ra dọc theo sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và các nhánh chính của hệ thống kênh, rạch); sạt lở bờ biển 52 điểm với tổng chiều dài 268km.


Toàn cảnh Diễn đàn
 
Các nguyên nhân sạt lở được xác định gồm suy giảm bùn cát do tác động của hồ chứa ở thượng nguồn và khai thác cát quá mức trên các triền sông; gia tải lên bờ sông, bờ biển do xây dựng và nâng cấp nhà ở, công trình ven sông, trên sông và ven biển; tác động của BĐKH, nước biển dâng; suy giảm diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn và ngập mặn ven biển; gia tăng hoạt động của tàu, thuyền gây tác động lên bờ sông và nền địa chất yếu của ĐBSCL….
 
Tại Hội nghị, các đại biểu tham gia đóng góp các ý kiến thể hiện rõ các quan điểm, định hướng phát triển tài nguyên nước, ứng phó thiên tai cho ĐBSCL: phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn; có giải pháp ứng phó hiệu quả với thiên tai như bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, với các tình huống bất lợi nhất do biến đổi khí hậu và phát triển thượng nguồn sông Mê Công; xác định biến đổi khí hậu và nước biển dâng là xu thế tất yếu, phải sống chung và thích nghi, phải biến thách thức thành cơ hội; lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, là cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng, cần phải được quản lý tổng hợp trên toàn lưu vực.
 
Tiếp theo đó các đại biểu được nghe các tham luận của các Bộ, ngành, nhà khoa học, doanh nghiệp, các địa phương và các tổ chức quốc tế như: Bản chất quá trình thấm xuyên và tác động của nó đối với các vấn đề xảy ra đối với nước dưới đất Đồng bằng sông Cửu Long (PGSTS Đoàn Văn Cánh, Chủ tịch Hội địa chất thủy văn Việt Nam); Tài nguyên nước dưới đất vùng ĐBSCL, sự biến động và giải pháp khai thác sử dụng bền vững trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng (PGS TS Phạm Quý Nhân, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội); Quản lý tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu theo tinh thần Nghị quyết 120 về phăt triển bền vững vùng ĐBSCL (PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ); Tìm kiếm giải pháp tổng thể nhằm chủ động giảm thiểu rủi ro do thay đổi nguồn nước và suy giảm bùn cát ở đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xây dựng các đập trên thượng lưu và sụt lún (GS. Đan Nguyễn, Trường Đại học Paris-Est); Báo cáo về lũ lụt, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/Tổng cục phòng chống thiên tai); Vai trò của công tác khí tượng thủy văn trong dự báo, cảnh báo thiên tai, đặc biệt là lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững vùng ĐBSCL (Tổng cục Khí tượng thủy văn); Quản lý tài nguyên nước, ứng phó với ngập lụt, xâm nhập mặn và sạt lở trên địa bàn thành phố Cần Thơ (UBND tỉnh Cần Thơ); Quản lý tài nguyên nước, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp (UBND tỉnh Cà Mau); Ứng phó với sạt lở trong điều kiện biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh An Giang (UBND tỉnh An Giang); Nguy cơ suy giảm mực nước, xâm nhập mặn, sụt lún nền đất và các giải pháp giảm thiểu Vùng ĐBSCL (Trung tâm Quy hoạch điều tra tài nguyên nước quốc gia); Sụt lún đất vùng ĐBSCL, hiện trạng và một số nguyên nhân chính (Viện Khoa học tài nguyên nước); Quy hoạch thủy lợi vùng ĐBSCL giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 (Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam); Kết quả thực hiện nhiệm vụ khảo sát, dự báo, cảnh báo thiên tai, khí tượng thủy văn phục vụ phát triển bền vững, ứng phó với BĐKH và nước biển dâng khu vực ĐBSCL (Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ); Giải pháp kỹ thuật, công nghệ, sản phẩm mới Kề bê tông cốt phi kim của Busadco trong việc xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai, bảo vệ bờ biển (Công ty Cổ phần khoa học Công nghệ Việt Nam (BUSADCO); Kết quả nghiên cứu tiềm năng trữ nước ngọt trong mùa mưa, cấp nước cho mùa khô, kiểm soát mặn và phát triển bền vững vùng ĐSBCL trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng (UNDP).

Tác giả bài viết: ​​​​​​​Khương Trung – Lê Hùng

Nguồn tin: Monre.gov.vn