Tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Hình ảnh minh họa. Nguồn internet

Hình ảnh minh họa. Nguồn internet

Theo báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An, trên toàn tỉnh hiện nay có khoảng 1777 công trình khai thác, sử dụng nước mặt, trong đó có khoảng 625 hồ chứa, 248 đập dâng, 563 trạm bơm, 96 công trình cấp nước công nghiệp và 503 công trình cấp nước sinh hoạt.

Hiện trạng khai thác, sử dụng nước mặt

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh mới chỉ có 18/20 đô thị đã có hệ thống cung cấp nước sạch với tổng công suất thiết kế là 113.000 m3/ngày.đêm, tỷ lệ người dân đô thị được sử dụng nước sạch trung bình khoảng 80%, ở khu vực thành phố Vinh, khu trung tâm đạt 94%, trung bình toàn thành phố đạt 82%. Các đô thị khác đạt từ 30% - đến 95,5%, trung bình đạt khoảng 60%. Riêng 03 đô thị còn lại là thị trấn Nghĩa Đàn, thị trấn Kim Sơn – huyện Quế Phong và thị xã Hoàng Mai, dân cư đô thị chưa được sử dụng nước từ hệ thông sản xuất nước sạch tập trung, hiện nay cả 3 đô thị này đã và đang đầu tư hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế khoảng 112.500 m3/ngày.đêm).

Theo đó, trên toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng 487 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, tổng công suất thiết kế 60.140m3/ngày.đêm, công suất khai thác hiện tại 34.980m3/ngày đêm. Trong tổng số 487 công trình cấp nước thì hiện có khoảng 230 công trình hoạt động kém hiệu quả, một số công trình đã ngừng hoạt động (chủ yếu là các công trình cấp nước mô hình tự chảy), 257 công trình còn lại đang sử dụng và hoạt động ở mức tốt và trung bình.

Cùng với đó, cấp nước nhỏ lẻ khu vực nông thôn chủ yếu gồm: giếng đào, giếng khoan, lu, bể chứa nước mưa, đây là loại hình cấp nước cơ bản và phổ biến hiện nay ở các vùng nông thôn. Số liệu thống kê cho thấy, tổng số công trình cấp nước nhỏ lẻ hiện nay khoảng 677.400 công trình, trong đó giếng đào 421.550 cái, giếng khoan 109.310 cái, lu, bể chứa nước mưa 145.800 cái).



Về cấp nước công nghiệp, trên toàn tỉnh có 03 Khu công nghiệp (KCN) và 14 Cụm công nghiệp (CCN) đang hoạt động. Khai thác sử dụng nước cho các KCN hiện nay chủ yếu nước nguồn nước mặt, KCN Hoàng Mai lấy nước trên kênh Nhà Lê, KCN Bắc Vinh lấy nước từ hệ thống cấp nước của Công ty cấp nước Nghệ An (khai thác trên sông Lam), KCN Nam Cấm một phần sử dụng nước của Công ty cấp nước Cửa Lò, một số doanh nghiệp trong KCN này sử dụng nguồn nước ngầm từ giếng khoan. Các CCN khai thác nhỏ lẻ gồm cả nước mặt và nước dưới đất. Tổng lượng nước cấp cho các KCN, CCN tập trung và phân tán trên địa bàn tỉnh hiện tại vào khoảng 20 triệu m3/năm.

Bên cạnh các KCN tập trung, các cơ sở sản xuất công nghiệp phân tán như khai thác khoáng sản, cơ sở sản xuất đá, khai thác quặng, chế biến thủy sản phần lớn khai thác từ nguồn nước mặt, trong đó trên địa bàn huyện Quỳ Hợp có tới 69 đơn vị khai thác, sử dụng nước mặt để sản xuất, chế biến đá với tổng lưu lượng khai thác khoảng 4.250m3/ngày.đêm, nguồn nước chủ yếu lấy từ các khe, suối trong vùng.

Đối với nước dưới đất

Theo số liệu điều tra và kết quả thăm dò, tìm kiếm nước dưới đất của các dự án đã nghiên cứu, trên địa bàn tỉnh Nghệ An tồn tại 4 tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở rời, trong đó có 2 tầng chứa nước thuộc loại giàu nước.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích hệ Đệ tứ không phân chia (q) phân bố dọc theo các sông, suối trong tỉnh như: Sông Cả, sông Con, sông Giăng, sông Hiếu, sông Dinh, sông Hoàng Mai … và các thung lũng giữa núi khác. Nhìn chung tầng này tương đối giàu nước, thành phần đất đá đa dạng, thay đổi từ hạt mịn đến hạt thô: sét cát, dăm sạn, cuội sỏi đa khoáng. Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa rơi trên diện lộ thấm xuống và chắc chắn tầng có quan hệ thuỷ lực với sông suối. 

Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích nhiều nguồn gốc Holocen trên (qh2) bao gồm toàn bộ hệ tầng Thái bình (Q2 tb), được thành tạo từ nhiều nguồn gốc: Sông biển, gió biển, hồ, đầm lầy và hỗn hợp. Trong đó sông biển và gió biển đóng vai trò chủ yếu. Diện tích phân bố của tầng chứa nước là một dải ven biển kéo dài từ Quỳnh Lưu đến thanh phố Vinh và dọc theo vùng hạ lưu sông Cả, sông Hoàng Mai và các sông khác. 

Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen dưới (qh1) bao gồm, các trầm tích có nguồn gốc: Sông biển, đầm lầy, biển thuộc hệ tầng Thiệu Hoá dưới (amQ21-2 th1, bmQ21-2 th1), tương ứng với các tầng Can Lộc vùng Hà Tĩnh (amQ21-2 cl1, bm Q21-2 cl1), gặp ở nhiều nơi nhưng không phát triển liên tục mà thành từng khu, khoảnh riêng biệt, và thường được phân chia bởi các trầm tích đá gốc được lộ ra trên các dẫy nứi trên vùng đồng bằng (Nam Đàn).

Nguồn cung cấp cho tầng là nước mưa, thấm lọc qua lớp phủ, từ các đồi đá gốc thấm xuống. Mặt khác giếng đào của dân khắp vùng vừa là nơi khai thác vừa là cửa sổ thu hút nước mưa, nước mặt cho tầng. Miền thoát là các sông suối trong vùng và các tầng chứa nước nằm dưới. Nhìn chung tầng qh1 không có khả năng cung cấp nước trên quy mô lớn, nhưng dối với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì nó cũng rất có ý nghĩa, nhất là đối với các vùng khan hiếm nước hoặc tầng chứa nước khác bị mặn.

Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen giữa –trên (qp1-2) bao gồm các thể địa chất: Các trầm tích hạt thô của hệ tầng Vĩnh phúc  mQ1vp1, hệ tầng Hà Nội mQ1-2 hn và hệ tầng Hoàng Hoá Q1 hh. Diện tích phân bố của nó phần lớn thuộc địa bàn thành phố Vinh, huyện Hưng Nguyên, một phần của huyện Nam Đàn, Nghi Lộc.

Nguồn cung cấp cho tầng qp là do mưa rơi thấm xuống. ở vùng Vinh- Cửa Lò do phía trên có tầng cách nước khá dày thì lượng mưa có thể thông qua các "Cửa sổ địa chất thuỷ văn" mà cung cấp cho tầng. Đó có thể là nước mưa theo các kẻ nứt của các tầng đá gốc lộ ra mà xuống, hoặc có thể là tầng cát chứa nước trên mặt phủ trực tiếp lên các đồi đá gốc nằm nông là nguồn cung cấp. Miền thoát của tầng là biển và có thể cả sông Cửa Lò và sông Cả ở phần gần biển.

Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng các tầng chứa nước của tỉnh Nghệ An là: 2.404.529 m3/ngày.

Trên địa bàn tỉnh, mạng quan trắc chất lượng nước mặt được thiết lập với 43 vị trí quan trắc trên sông, hồ. Chương trình quan trắc được thực hiện định kỳ với tần suất 04 đợt/năm (vào các tháng 3, 6, 9, 11 hàng năm); quan trắc đo đạc, phân tích từ 20 đến 23 thông số/mẫu. Việc quan trắc chất lượng nguồn nước mặt do Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện định kỳ hơn 10 năm qua.
 

 

Tác giả bài viết: DWRM